TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2025/HNGĐ-PT Ngày: 18-11-2025 V/v “Tranh chấp tài sản sau ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Đỗ Văn Thinh |
| Các Thẩm phán: | Bà Phùng Thị Cẩm Hồng |
| Bà Lê Thị Bích Tuyền |
- Thư ký phiên tòa: ông Đặng Minh Huy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số: 43/2025/TLPT-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp tài sản sau ly hôn”. Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 42/2025/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 11 năm 2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Phan Văn Thành, sinh năm 1972; địa chỉ: Số 1211, lô 786, khu phố 1, thị trấn Bến Cầu, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp Mộc Bài, xã Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh); vắng mặt.
- Bị đơn: bà Bùi Thanh Nga, sinh năm 1973; địa chỉ: Khu phố 1, thị trấn Bến Cầu, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp Mộc Bài, xã Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh); có mặt.
- Người kháng cáo: ông Phan Văn Thành là nguyên đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Thành: anh Phan Văn Dương, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp Tân Trường, xã Tân Hiệp, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp Tân Trường, xã Tân Hội, tỉnh Tây Ninh); có mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn - ông Phan Văn Thành và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: ông Thành và bà Nga là vợ chồng và đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và hòa giải thành số 126/2023/QÐST-HNGĐ, ngày 04/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh nhưng không yêu cầu giải quyết về tài sản. Trước đó, vào ngày 06/11/2023 ông Thành và bà Nga đã tự thỏa thuận phân chia tài sản chung; nhưng đối với các phần hụi, bà Nga và ông Thành chưa thỏa thuận phân chia. Cụ thể: bà Nga và ông Thành có làm chủ 03 dây hụi, trị giá 20.000.000 đồng/phần, mở vào ngày 05/4/2023; ngày 15/10/2022 và ngày 25/5/2023. Trong đó, dây hụi mở ngày 25/5/2023, ông Thành và bà Nga còn 01 phần hụi sống, gồm 22 phần. Trước khi ly hôn thì ông Thành và bà Nga đã đóng được 07 lần hụi sống. Sau khi ly hôn, ông Thành không tiếp tục đóng hụi và không thực hiện theo thỏa thuận ngày 06/11/2023 nên bà Nga khởi kiện ông Thành đòi số tiền 760.000.000 đồng mà bà Nga đã đóng choàng cho ông Thành. Tại Bản án số 41/2024/DS-ST, ngày 25/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh buộc ông Thành trả cho bà Nga số tiền 640.000.000 đồng. Căn cứ vào sổ hụi, danh sách hụi viên mà bà Nga cung cấp trong vụ án bà Nga kiện đòi số tiền 760.000.000 đồng, thể hiện hụi viên số 19 “Kim Chi” chưa hốt tại thời điểm ký thỏa thuận ngày 06/11/2023. Đến ngày 04/12/2023, khi ông Thành và bà Nga ly hôn thì phần hụi này vẫn chưa hốt. Nay ông Thành yêu cầu bà Nga trả lại ½ số tiền 420.000.000 đồng = 210.000.000 đồng và lãi chậm trả từ ngày khởi kiện cho đến khi kết thúc vụ án với mức lãi suất 10%/năm.
Bị đơn - bà Bùi Thanh Nga trình bày: Trong thời gian sống chung, bà và ông Thành có làm chủ thảo các dây hụi: 20.000.000 đồng, mở ngày 05/4/2023; mở ngày 15/10/2022 và mở hụi ngày 2/5/2023 như ông Thành trình bày. Tại thời điểm giải quyết ly hôn, bà và ông Thành còn nợ hụi 1.520.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận mỗi người trả số tiền 760.000.000 đồng và ông Thành viết cam kết mỗi tháng đóng số tiền 60.000.000 đồng. Do ông Thành không thực hiện như cam kết nên bà khởi kiện yêu cầu ông Thành trả bà số tiền 760.000.000 đồng và được Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử ngày 25/9/2024 đã buộc ông Thành trả cho bà 640.000.000 đồng, do tại thời điểm bà khởi kiện còn số tiền 120.000.000 đồng chưa đến hạn đóng hụi nên bà rút một phần yêu cầu. Thời điểm ly hôn, bà và ông Thành không còn số tiền hốt hụi nào chưa chia, nên không đồng ý như yêu cầu khởi kiện của ông Thành.
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 42/2025/HNGĐ-ST, ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ Điều 105, 219, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 33, 59 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 của UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016.
3
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Thành “Chia tài sản sau ly hôn” đối với bà Bùi Thanh Nga đối với số tiền 210.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả với mức lãi 10%/năm tính từ ngày 26/01/2025 cho đến khi kết thúc vụ án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo đối với các đương sự.
Ngày 26/8/2025, ông Thành kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông, buộc bà Nga trả cho ông số tiền 210.000.000 đồng tiền hụi.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của ông Thành vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Thành, giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của ông Thành làm trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm phù hợp với quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông Thành, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: ông Thành và bà Nga có văn bản thỏa thuận về tiền hụi vào ngày 06/11/2023, trong đó hai bên đã xác định nghĩa vụ đóng hụi hàng tháng và không có nội dung nào về việc chia tiền hụi chưa lĩnh. Sau đó, vào ngày 20/11/2023, ông Thành và bà Nga tiếp tục lập “Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng” nhưng cũng không nêu về số tiền hụi chưa lĩnh, điều đó thể hiện các bên đã thống nhất xử lý toàn bộ vấn đề hụi, tài sản chung trước khi ly hôn.
[3] Ngoài ra, theo hồ sơ thể hiện, phần hụi do hụi viên Kim Chi (số thứ tự 19) trong dây hụi mở ngày 25/5/2023 đã được lĩnh ngày 25/9/2023, tức trước thời điểm ông Thành và bà Nga ly hôn, nên không còn là hụi sống như ông Thành trình bày. Căn cứ các bản án trước đó do bà Nga khởi kiện ông Thành (số 41/2024/DS-ST và 646/2024/DS-PT), Tòa án các cấp đều xác định phần hụi này đã lĩnh xong và ông Thành có trách nhiệm hoàn trả ½ tiền hụi chưa đóng cho bà Nga; do đó việc ông
4
Thành yêu cầu chia lại hụi là không có cơ sở. Nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Thành, giữ nguyên bản án sơ thẩm dân sự.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: ông Thành kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định.
[6] Các quyết định khác của án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phan Văn Thành; giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Áp dụng các điều 33, 59 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Thành về việc yêu cầu bà Bùi Thanh Nga giao trả số tiền 210.000.000 (hai trăm mười triệu) đồng và tiền lãi với lãi suất 10%/năm tính từ ngày 26/01/2025 cho đến khi kết thúc vụ án.
1. 2. Về án phí sơ thẩm: ông Phan Văn Thành phải chịu 10.500.000 (Mười triệu năm trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 5.250.000 (Năm triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai số 0012601, ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12, tỉnh Tây Ninh); ông Thành phải nộp tiếp 5.250.000 (Năm triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
2. Án phí phúc thẩm: ông Phan Văn Thành phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai số: 0004213, ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Các quyết định khác của án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Thinh |
Bản án số 39/2025/HNGĐ-PT ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp tài sản sau ly hôn
- Số bản án: 39/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản sau ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn Thành Tranh chấp tài sản sau ly hôn Bùi Thanh Nga
