Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/DS-ST

Ngày 30 tháng 9 năm 2024

V/v tranh chấp chia di sản thừa kế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Giang Thanh và bà Nguyễn Thị Hường

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Huyền – Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp chia di sản thừa kế”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 170/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 98/2024/QÐST-DS ngày 23 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy S, sinh năm 1970; Địa chỉ: thôn M, xã H, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)

    * Người đại diện theo ủy quyền của ông S: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1977 - Luật sư công ty L3 - Đoàn luật sư tỉnh T.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1968; (có mặt)

    Địa chỉ: thôn Thần Khê, xã Thăng Long, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Chị Nguyễn Thị Hải V, sinh năm 1990. Địa chỉ: thôn Y, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; (vắng mặt)
    • - Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995; địa chỉ: thôn N, thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; (có mặt)
    • - Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1998; địa chỉ: thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; (vắng mặt)
    • Người đại diện theo ủy quyền của chị V, chị H, chị H1: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1968; Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (có mặt)
    • - Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968; địa chỉ: Buôn E, xã D, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; (vắng mặt)
    • - Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1987; địa chỉ: thôn M, xã H, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; (vắng mặt)
    • - Anh Nguyễn Văn S1, sinh năm 1994; địa chỉ: thôn M, xã H, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; (vắng mặt)
    • - Chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 2000; địa chỉ: thôn M, xã H, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; (vắng mặt)
    • - Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1962; địa chỉ: thôn K, xã H, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; (vắng mặt)
    • Người đại diện theo ủy quyền của bà L, anh S1, anh P, chị T1, bà Đ: Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1971; Địa chỉ: thôn M, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)
    • - Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1954; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; (vắng mặt)
    • - Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1958; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; (vắng mặt)
    • - Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1992; nơi đăng ký HKTT: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Địa chỉ hiện nay: Liên Bang N. (vắng mặt)
    • - Bà Lương Thị T4, sinh năm 1945; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; (vắng mặt)
    • - Anh Nguyễn Hồng G, sinh năm 1971; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; (vắng mặt)
    • - Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1974; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; (vắng mặt)
    • - Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1980; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
    • Người đại diện theo ủy quyền của bà T4, chị H2, chị O: Anh Nguyễn Hồng G, sinh năm 1971; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn – Ông Nguyễn Duy S trình bày:

Bố ông là cụ Nguyễn Văn T5 (chết ngày 15/07/1996), mẹ ông là cụ Nguyễn Thị T6 (chết ngày 24/07/1996) sinh được 08 người con chung:

  1. Nguyễn Duy S (là nguyên đơn)
  2. Bà Nguyễn Thi L1
  3. Ông Nguyễn Văn C
  4. Bà Nguyễn Thị Thanh
  5. Bà Nguyễn Thị Đạm
  6. Ông Nguyễn Văn S2 chết năm 2015, có vợ là bà Lương Thị T4 và 3 con chung là anh Nguyễn Hồng G, chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị O
  7. Ông Nguyễn Văn T7 chết năm 2012, có vợ là bà Nguyễn Thị T8 – chết năm 2022 có 4 con chung: anh Nguyễn Văn P, chị Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Văn S1, chị Nguyễn Thị Thanh T1.
  8. Ông Nguyễn Văn T9 chết năm 2014, có vợ là và Nguyễn Thị B (là bị đơn) có 3 con chung là chị Nguyễn Thị Hải V, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị H1.

Trong quá trình chung sống, hai cụ có tạo lập được khối tài sản chung gồm:

  1. Thửa đất số: 305 (tờ bản đồ số: 02/DC bản đồ 299), có diện tích: 700 m², mục đích sử dụng là đất ở tại nông thôn (T). Điạ chỉ thửa đất: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
  2. Thửa đất số: 306 (tờ bản đồ số: 02/DC bản đồ 299), có diện tích: 150 m², mục đích sử dụng là đất ao (A). Điạ chỉ thửa đất: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
  3. Thửa đất số: 302 (tờ bản đồ số: 02/DC bản đồ 299), có diện tích: 110 m², mục đích sử dụng là đất ao (A). Điạ chỉ thửa đất: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
  4. Đất trồng lúa:
    • + Thửa đất số: 96; Tờ bản đồ số: 4; Diên tích: 271 m²

      Địa chỉ thửa đất: Xứ đồng C, thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

    • + Thửa đất số: 307; Tờ bản đồ số: 4; Diện tích: 157 m²

      Địa chỉ thửa đất: Xứ đồng cửa Bồn, thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

    • + Thửa đất số: 1407; Tờ bản đồ số: 4; Diện tích: 134 m²

      Địa chỉ thửa đất tại: Xứ đồng C, thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. (Diện tích này các con cháu đã bán để trả nghĩa vụ tài chính, thuế,.. của 2 cụ với UBND xã nên ông không có ý kiến, không yêu cầu chia diện tích này).

Năm 1990 ông xây dựng gia đình, vợ chồng ông sống cùng với cha mẹ trong ngôi nhà cấp 4 diện tích khoảng 30 m2 trên thửa đất 305. Trong thời gian này anh trai ông là Nguyền Văn T10 cùng chung sống. Vì vậy, để thuận tiện cho việc sinh hoạt, sau khi bàn bạc gia đình đã thống nhất tạm thời tách diện tích đất thửa 305 thành 2 phần, ông ở phần phía có nhà của cha mẹ, còn anh Toàn phần đất trống. Vợ chồng anh T10 có xây một ngôi nhà mái bằng, diện tích khoảng 40 m2. Sau khi mẹ ông qua đời vợ chồng ông chuyển vào Đ sinh sống và làm việc, hàng năm ông vẫn về nhà. Năm 2017, do ngôi nhà xuống cấp nghiêm trọng ông đã dỡ toàn bộ nhà và các công trình phụ trên đất, xây tường bao xung quanh, hiện tại đang trồng các loại cây ăn quả, phần còn lại đang do bà Nguyễn Thị Bích vợ T11 quản lý, sử dụng. Đối với đất nông nghiệp hiện cháu G (con ông S2) mượn để canh tác. Nay không thỏa thuận được về việc phân chia di sản ông đề nghị chia di sản các cụ để lại, ông có nguyện vọng được nhận bằng hiện vật.

* Quá trình giải quyết vụ án, phiên hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn – Bà Nguyễn Thị B trình bày:

Về quan hệ gia đình và các tài sản hai cụ tạo lập được bà nhất trí với trình bày của ông S. Bà xác định khi còn sống hai cụ đã nói miệng chia đôi thửa đất thổ cho vợ chồng bà và vợ chồng ông S còn đất trồng lúa hai cụ chưa tuyên bố cho ai, việc cho đất không có văn bản gì, hiện nay đất vẫn đứng tên các cụ. Nếu phải chia di sản thì bà có nguyện vọng được nhận bằng hiện vật là phần đất vợ chồng bà đã xây nhà. Căn nhà 2 cụ để lại do quá cũ kỹ nên đã bị sập, không ai đề nghị định giá hay chia gì, hiện nay toàn bộ công trình, tài sản trên đất của hai cụ là do vợ chồng bà tạo lập.

* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến như sau:

- Chị Nguyễn Thị Hải V, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1 trình bày: Các chị nhất trí với phần trình bày của bà Nguyễn Thị Bích . Trong trường hợp các chị được nhận thừa kế, các chị đồng ý cho bà B toàn bộ phần của mình.

- Bà Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Văn P, anh Nguyễn Văn S1, chị Nguyễn Thị Thanh T1, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị Đ đều trình bày nhất trí với phần trình bày và yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn. Trong trường hợp được nhận thừa kế, các đương sự đồng ý cho ông Song toàn B1 phần của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị M vắng mặt, không có ý kiến trình bày. Theo Phòng Q Công an tỉnh T cung cấp chị M đã xuất cảnh 3 lần, gần nhất là ngày 17/10/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.

Anh Nguyễn Hồng G trình bày: Ông nội anh là cụ Nguyễn Văn T5, sinh năm 1921 (đã chết ngày 15/07/1996), bà nội anh là cụ Nguyễn Thị T6, sinh năm 1925 (đã chết ngày 24/07/1996). Hai cụ kết hôn với nhau và sinh được 08 người con chung là: Ông Nguyễn Duy S, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn S2 – bố anh (sinh năm 1942, đã chết ngày 22/08/2015), ông Nguyễn Văn T7 (sinh năm 1962, đã chết ngày 16/10/2012), ông Nguyễn Văn T9 (sinh năm 1964, đã chết ngày 23/01/2014). Ông Nguyễn Văn T7 có vợ là bà Nguyễn Thị T8 (bà T8 đã chết ngày 11/08/2022). Ngoài ra hai cụ không có con nuôi, con riêng nào. Bố mẹ hai cụ mất trước hai cụ, không đóng góp trong khối tài sản 2 cụ để lại. Bố anh kết hôn với mẹ anh là bà Lương Thị T4 và có 03 con chung là: Nguyễn Hồng G, Nguyễn Thị H2 và Nguyễn Thị O. Nay ông Skhởi kiện chia thừa kế di sản của 2 cụ để lại, quan điểm của anh là đồng ý với yêu cầu chia thừa kế. Mẹ anh là bà Lương Thị T4 và 2 em là Nguyễn Thị H2 và Nguyễn Thị Otự nguyện cho anh phần thừa kế được nhận, anh đồng ý nhận toàn bộ và sẽ chịu án phí nếu có. Anh đồng ý nhận thừa kế bằng tiền.

Bà Lương Thị T4, chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị O đều trình bày nhất trí với anh Nguyễn Hồng G và đồng ý cho anh G phần di sản được hưởng, xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Bà Nguyễn Thị H3 là mẹ đẻ của bà Nguyễn Thị T8 trình bày: Bố đẻ của bà T8 đã chết, nay ông S khởi kiện chia thừa kế, bà không liên quan gì, đề nghị Toà án không đưa bà vào tham gia tố tụng.

Kết quả xác minh tại UBND xã T

Cụ Nguyễn Văn T5 (chết ngày 15/07/1996) và cụ Nguyễn Thị T6 (chết ngày 24/07/1996) sinh được 08 người con chung:

  1. Nguyễn Duy S (là nguyên đơn)
  2. Bà Nguyễn Thi L1
  3. Ông Nguyễn Văn C
  4. Bà Nguyễn Thị Thanh
  5. Bà Nguyễn Thị Đạm
  6. Ông Nguyễn Văn S2 chết năm 2015, có vợ là bà Lương Thị T4 và 3 con chung là anh Nguyễn Hồng G, chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị O
  7. Ông Nguyễn Văn T7 chết năm 2012, có vợ là bà Nguyễn Thị T8 – chết năm 2022 có 4 con chung: anh Nguyễn Văn P, chị Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Văn S1, chị Nguyễn Thị Thanh T1. Bà T8 có bố đẻ là ông Nguyễn Văn H4 (đã chết) và mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị H3.
  8. Ông Nguyễn Văn T9 chết năm 2014, có vợ là và Nguyễn Thị B (là bị đơn) có 3 con chung là chị Nguyễn Thị Hải V, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị H1.

Cha mẹ cụ T6, cụ T5 đều mất trước hai cụ.

Di sản 2 cụ để lại gồm:

  • Thửa đất số: 305 tờ bản đồ số 02 bản đồ 299, có diện tích: 700 m², mục đích sử dụng là đất ở tại nông thôn (T). Điạ chỉ thửa đất: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
  • Thửa đất số: 306 tờ bản đồ số 02 bản đồ 299, có diện tích: 150 m², mục đích sử dụng là đất ao (A). Điạ chỉ thửa đất: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
  • Thửa đất số: 302 (tờ bản đồ số: 02/DC bản đồ 299), có diện tích: 110 m², mục đích sử dụng là đất ao (A). Điạ chỉ thửa đất: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

Hạn mức đất ở tại địa phương là 360m², còn lại là đất vườn. Diện tích đất có biến động là do sai số đo đạc. Đối với ngõ đi vào thửa đất số 305 của hai cụ, hiện nay đang sử dụng ngõ chung nhà ông T6, bà L2.

Đất trồng lúa:

  • + Thửa đất số: 96; Tờ bản đồ số: 4; Diên tích: 271 m²

    Địa chỉ thửa đất: Xứ đồng C, thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

  • + Thửa đất số: 307; Tờ bản đồ số: 4; Diện tích: 157 m²

    Địa chỉ thửa đất: Xứ đồng cửa Bồn, thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

  • + Thửa đất số: 1407; Tờ bản đồ số: 4; Diện tích: 134 m²

    Địa chỉ thửa đất tại: Xứ đồng C, thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Diện tích này các con cháu đã bán để thanh toán nghĩa vụ đất đai với UBND xã.

* Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

  • +) Thửa đất 426 có diện tích là 157,7 m2 là đất ao.
  • +) Thửa 432 có diện tích 810,1 m2 là đất ở và đất vườn.

Tài sản trên đất hiện nay:

  • +) 01 nhà một tầng xây gạch chỉ tường 220 lợp mái bằng, kết cấu tường chịu lực xây 1988, giá trị còn lại là 25% do ông T9 bà B xây dựng
  • +) 01 nhà vệ sinh xây gạch chỉ tường 220 lợp mái tôn xốp vỉ kèo thép do ông T9 bà B xây năm 2014.
  • +) 01 mái tôn vỉ kèo thép xây năm 2014 do ông T9 bà B xây.
  • +) T12 xây gạch không nung chiều cao khoảng 1,4 mét do ông T9 bà B xây năm 2014.
  • +) Sàn bê tông láng vừa xi măng cát do ông S và bà B làm 1988.

Ngoài ra trên đất còn một số cây đương sự không yêu cầu định giá.

  • - Về đất ở là 3.000.000đ/m2; Đất vườn 121.500đ/m2; đất ao: 113.400 đ/m2 và đất nông nghiệp là 105.000đ/m2.
  • - Tải sản trên đất
  • +) 01 nhà một tầng xây gạch chỉ tường 220 lợp mái bằng, kết cấu tường chịu lực xây 1988, diện tích sử dụng là 49,7 m2, giá trị còn lại là 25%, đơn giá 3.037.237 đ/m2.
  • +) 01 nhà vệ sinh xây gạch chỉ tường 220 lợp mái tôn xốp vỉ kèo thép, diện tích sử dụng là 26,6 m2, giá trị còn lại là 35%, đơn giá 2.668.138 đ/m2.
  • +) 01 mái tôn vỉ kèo thép, giá trị còn lại là 35%, đơn giá 2.668.138 đ/m2.
  • +) T12 xây gạch không nung chiều cao khoảng 1,4 mét, giá trị còn lại là 35%, đơn giá 1.704.223 đ/m2.
  • +) Sân bê tông láng vừa xi măng cát do ông S và bà B làm 1988, giá trị còn lại là 25%, đơn giá 135.108 đ/m2.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ thủ tục thụ lý vụ án, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mở phiên tòa và xét xử tại phiên tòa. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đã được tranh tụng và trình bày quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia di sản của cụ T5, cụ T6 theo pháp luật, đề nghị tính công sức quản lý, tôn tạo di sản cho bà B và chia di sản bằng hiện vật cho bà B, ông S phần diện tích đất ở, đất vườn, ao; chia đất ruộng cho ông S, anh G; các bên phải thanh toán tiền chênh lệch giá trị di sản được chia theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Bị đơn trong vụ án là bà Nguyễn Thị Bích cư T13 tại xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị M đang ở Liên Bang N, nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình là đúng quy định tại khoản 5 Điều 26; Điều 37; Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về việc xác định tư cách tham gia tố tụng: Ông S khởi kiện yêu cầu chia thừa kế phần di sản của cụ Nguyễn Văn T5 và cụ Nguyễn Thị T6 nên cần xác định nguyên đơn là Ông Nguyễn Duy S, bị đơn là bà Nguyễn Thị Bích . Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là những người thừa kế của ông Nguyễn Văn T9 (chị Nguyễn Thị Hải V, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị H1); Bà Nguyễn Thị L; những người thừa kế của ông Nguyễn Văn T7 (anh Nguyễn Văn P, anh Nguyễn Văn S1, chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị Nguyễn Thị M); ông Nguyễn Văn C; bà Nguyễn Thị T3; bà Nguyễn Thị Đ; những người thừa kế của ông Nguyễn Văn S2 (Bà Lương Thị T4, anh Nguyễn Hồng G, chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị O) là đúng quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Đối với chị Nguyễn Thị M hiện đang sinh sống tại Liên bang N, vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào Công văn số: 131/TANDTC-HTQT ngày 04/7/2022 về việc uỷ thác tư pháp ra nước ngoài trong đó có thông báo hoãn uỷ thác tư pháp sang Liên bang N. Do đó, áp dụng Án lệ số: 06/2016 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử vắng mặt chị M, phần tài sản thừa kế chị M tạm giao người thân quản lý, sau này có trách nhiệm giao lại cho chị M theo quy định. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt khác đều đã có uỷ quyền và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Duy S thấy:

[4.1] Về thời hiệu khởi kiện:

Cụ T5 chết ngày 15/7/1996, cụ T6 chết ngày 24/7/1996, hai cụ chết đều không để lại di chúc. Ngày 08/9/2023, ông S có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ T5 và cụ T6. Căn cứ quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 thì thời hiệu chia di sản thừa kế của hai cụ vẫn còn.

[4.2] Về hàng thừa kế: Cụ T5 và cụ T6 có 08 người con gồm: Ông S, bà L, ông C, bà T3, bà Đ, ông S2, ông T9, ông T7; ngoài ra hai cụ không có riêng con nuôi nào khác. Ông S2 chết năm 2015, có vợ là bà T4, có con là anh G, chị H2, chị O. Ông T9 chết năm 2014, có vợ là bà B, có con là chị V, chị H, chị H1. Ông T7 chết năm 2012, có vợ là bà T8- chết năm 2022, có con là anh P, chị M, anh S1 và chị T1. Do đó thừa kế của hai cụ là: bà L, ông C, bà T3, bà Đ, thừa kế của ông T7 (anh P, chị M, chị S1, chị T1), thừa kế của ông T9 (bà B, chị V, chị H, chị H1), thừa kế của ông S2 (bà T4, anh G, chị H2, chị O) và ông S

[4.3] Xác định di sản thừa kế:

Nguồn gốc và biến động di sản:

+ Đất ở, vườn và ao: Theo bản đồ 299 và sổ mục kê bao gồm: Thửa đất số 305/700 m², mục đích sử dụng là đất T; Thửa đất 302/110m² đất ao và thửa đất 306/150m² đất ao, đứng tên là cụ Nguyễn Thị T14 (T9), thực tế là Nguyễn Thị T6. Theo bản đồ đo đạc năm 2006 và đo đạc hiện trạng tách làm 2 thửa: thửa đất 426/157,7m² đất ao, thửa đất 432/810,1m² đất ở và đất trồng cây lâu năm (trong đó đất ở 360m² và 450,1m²). Kết quả xác minh thể hiện qua các lần đo đạc, đất có biến động là do sai số trong đo đạc. Đối với thửa 302 có diện tích 110 m² có nguồn gốc là đất ao nhưng đã được cụ T14, cụ T6 san lấp, xây dựng các công trình, tường bao trên đất từ rất lâu, hiện trạng đã thay đổi, đến khi đo đạc năm 2006 đã được sáp nhập vào thửa 305 không phân định rõ đất ở, đất vườn, do đó phần diện tích này được xác định nằm trong thửa 432 có tổng diện tích 810m² (trong đó đất ở 360m² và 450,1m² đất vườn). Đất nông nghiệp ở cánh đồng là 562 m²(Thửa 96/271 m², thửa 307/157m², thửa 1407/134 m²). Ông S, bà B cho rằng khi hai cụ còn sống gia đình đã bàn bạc cho bằng miệng tách đất thành 2 phần chia đôi thửa đất thổ cho vợ chồng ông S và vợ chồng ông T9; còn đất trồng lúa hai cụ chưa tuyên bố cho ai. Nhưng cả ông S và B không đưa được căn cứ chứng minh về việc hai cụ đã tách đất chia cho hai con nên không chấp nhận ý kiến này. Đối với thửa đất nông nghiệp tại thửa 1407 diện tích: 134 m² tại xứ đồng cửa B, các con cháu đã bán để thanh toán nghĩa vụ đất đai với Ủy ban nhân dân xã đến nay đều không yêu cầu do đó không xem xét đối với thửa đất này.

Do vậy, có căn cứ xác định đi sản thừa kế của hai cụ là 360 m² đất thổ, 450,1 m² đất vườn, 157,7 m² đất ao và 428 m² đất ruộng. Theo kết quả thẩm định và định giá tài sản thì di sản để lại của cụ T14 cụ T6 là 360 m² đất ở trị giá 1.080.000.000 đồng; 450,1 m² đất vườn trị giá làm tròn là 54.687.000 đồng; đất Ao 157,7 m² trị giá làm tròn là 17.883.000 đồng; 428m² đất nông nghiệp ( đất ruộng) trị giá làm tròn là 44.490.000. Tổng giá trị di sản là 1.197.060.000 đồng.

[4.4] Cách chia di sản thừa kế:

Bà B đang ở trên đất từ khi lấy ông T9 cho đến nay, ông S ở trên đất đến khi các cụ mất thì sinh sống nơi khác, bà B và các con bà B có công sức chăm nom, quản lý, tôn tạo di sản do đó cần trích cho bà B 1 suất công sức đối với phần diện tích đất ở và đất vườn.

Trong quá trình giải quyết bà bà L, ông C, bà T3, bà Đ và chị T1, anh P và anh S1 tự nguyện nhường phần thừa kế cho ông S; chị V, chị H, chị H1 nhường phần thừa kế cho bà B; bà T4, chị H2, chị O nhường phần thừa kế cho anh G. Xét thấy việc nhường phần thừa kế này là sự tự nguyện nên cần chấp nhận.

[4.4.1] Đối với đất ở và đất vườn: Chia thành 9 phần bằng nhau trong đó ông S được 5 ¼ suất phần (43¼ suất được cho và 1 suất kỷ phần của ông S được hưởng); bà B được 2 suất gồm suất kỷ phần hưởng của ông T9 và 1 suất công sức quản lý, tôn tạo di sản; anh G được 1 suất; chị M được ¼ suất thừa kế quy thành tiền. Giá trị mỗi suất là 126.076.350 đồng.

[4.4.2] Đối với đất ao và đất ruộng: Chia thành 8 phần bằng nhau, trong đó ông S được 5 ³¼ suất phần (43¼ suất được cho và 1 suất kỷ phần của ông S được hưởng); bà B được 1 suất là suất kỷ phần hưởng của ông T9; anh G được 1 suất; chị chị M được ¼ suất thừa kế quy thành tiền. Giá trị mỗi suất là 7.852.897 đồng

Tổng [4.4.1] + [4.4.2] thì ông S được hưởng 770.093.173 đồng, bà B được hưởng 260.005.597 đồng, anh G được hưởng 133.929.248 đồng, chị M được hưởng 33.482.312 đồng.

Về phương án chia di sản: Diện tích đất tranh chấp là 967,8m², có 2 đầu ngõ cạnh thửa đất, ông T9, bà B đã xây dựng nhà và các công trình, tài sản trên đất, hiện bà B đang quản lý và đi ngõ phía nam, ông S và bà B đều có nhu cầu nhận bằng hiện vật, anh G có nguyện vọng nhận bằng tiền, chị M chưa có ý kiến song phần chị M được hưởng không đủ điều kiện để tách thửa theo quy định; căn cứ vào hình thể thửa đất thì việc chia bằng hiện vật cho bà B và ông S là phù hợp. Đối với phần đất nông nghiệp thì hiện anh G đang sử dụng và có đặt mộ của cụ T14 trên phần đất ruộng có diện tích 157 m² nên cần giao phần đất này cho anh G. Đối với phần đất nông nghiệp 271 m² còn lại do ông S có nguyện vọng sử dụng, anh G có nguyện vọng lấy bằng tiền nên cần giao cho ông S; các đương sự có nghĩa vụ trả tiền chênh lệch cho nhau. Cụ thể: Giao cho bà B được quản lý và sử dụng toàn bộ tài sản trên diện tích đất 670,9 m² trong đó có 63,1m² đất ở trị giá 189.300.000 đồng; 450,1 m² đất vườn trị giá làm tròn là 54.687.000 đồng, đất ao 157,7 m² trị giá làm tròn là 17.883.000 đồng, tổng giá trị di sản bà B được chia là 261.870.000 đồng. Giao cho ông S được quản lý, sử dụng 296,9 m² đất ở trị giá 890.700.000 đồng và 271 m² đất nông nghiệp (đất ruộng) tại thửa đất số 96, tờ bản đồ số: 4, xứ đồng Cửa Bồn, thôn T trị giá làm tròn là 28.455.000 đồng, tổng giá trị ông S được chia là 919.155.000 đồng; anh G được chia 157m² đất nông nghiệp (đất ruộng) tại thửa đất số: 307, tờ bản đồ số: 4, xứ đồng Cửa Bồn, thôn T trị giá làm tròn là 16.485.000 đồng. Đối trừ giá trị di sản được hưởng và phần di sản được giao thì ông S phải thanh toán phần chênh lệch di sản cho anh G làm tròn là 115.580.000 đồng; ông S phải trả giá trị phần di sản được hưởng cho chị M là 33.482.000 đồng; Bà B phải trả cho anh G số tiền 1.864.000 đồng. Giao cho anh Nguyễn Văn P ( là anh trai của chị M) quản lý phần di sản của chị M.

[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông S tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản, không yêu cầu chia. Ông S đã thanh toán xong.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 26; Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 184; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 149, 150, 151,609, 611, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 652; khoản 2, khoản 3 Điều 618; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Duy S, chia di sản của cụ Nguyễn Văn T5 và cụ Nguyễn Thị T6 theo pháp luật đối với thửa đất số 426 có 157,7m² đất ao; thửa 432 có 360 m² đất ở và 450,1m² đất vườn tại tờ bản đồ địa chính số 02, thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình và 428m² đất nông nghiệp (đất ruộng) xứ đồng Cửa Bồn, thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, cụ thể như sau:
    1. Chia cho bà Nguyễn Thị B được quản lý và sử dụng toàn bộ tài sản là nhà, công trình, cây cối trên diện tích đất tổng là 670,9m², trong đó có 63,1m² đất ở, 450,1m² đất vườn tại số thửa 432 và 157,7m² đất ao tại thửa đất số 426. Tổng giá trị di sản bà B được chia là 261.870.000 đồng (Có sơ đồ kèm theo bản án này)
    2. Chia cho ông Nguyễn Duy S được quản lý và sử dụng 296,9m² đất ở thửa 432 và 271m² đất nông nghiệp (đất ruộng) tại thửa đất số: 96, tờ bản đồ số: 4, xứ đồng C, thôn T. Tổng giá trị ông S được chia là 919.155.000 đồng (Có sơ đồ kèm theo bản án này)
    3. Chia cho anh Nguyễn Hồng G được sử dụng 157m² đất nông nghiệp ( đất ruộng) tại thửa đất số: 307, tờ bản đồ số: 4, xứ đồng Cửa Bồn, thôn T trị giá làm tròn là 16.485.000 đồng (Có sơ đồ kèm theo bản án này)
    4. Ông Nguyễn Duy S phải thanh toán phần chênh lệch di sản cho anh G là số tiền 115.580.000 đồng; ông S phải trả giá trị phần di sản được hưởng cho chị M số tiền 33.482.000 đồng; Bà Nguyễn Thị B phải trả cho anh Nguyễn Hồng G số tiền 1.864.000 đồng. Giao cho anh Nguyễn Văn P (là anh trai của chị M) quản lý phần di sản của chị M được chia, anh P có trách nhiệm hoàn trả lại cho chị M khi chị M có yêu cầu.

    Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

  2. Ông Nguyễn Duy S, bà Nguyễn Thị B, anh Nguyễn Hồng G có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
  3. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Duy S tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản, đã thanh toán xong
  4. Về án phí:Ông Nguyễn Duy S phải chịu 30.991.600 đồng án phí dân sự sơ thẩm, bà Nguyễn Thị B phải chịu 13.300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, anh Nguyễn Hồng Gphỉ chịu 6.650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, chị Nguyễn Thị Mphải chịu 1.662.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  5. Quyền kháng cáo: Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt đã có người được uỷ quyền tham gia phiên toà, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/9/2024. Chị Nguyễn Thị M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Thăng Long, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Duy Luân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 56/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án S- B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger