Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 39/2025/DS-ST

Ngày: 20/6/2025

“V/v Tranh chấp hợp đồng

dân sự vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT – TỈNH LÂM ĐỒNG.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Đặng Thị Thới

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Miện

Ông Từ Hồng Hải

- Thư ký phiên tòa: ông Huỳnh Ngọc Phú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt – tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 125/2025/TBTL-VA ngày 02 tháng 4 năm 2025 v/v “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST – DS ngày 20 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ M, sinh năm: 1976.

Địa chỉ: Số A T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm: 1977. Địa chỉ: Lô A khu Q, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (theo Hợp đồng ủy quyền lập ngày 17/3/2025)

Bị đơn: Bà Bùi Thị Mai L, sinh năm: 1974.

Địa chỉ: Số G P, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Hiện đang thi hành án tại Phân trại L - Trại giam X, tỉnh Đồng Nai.

(Ông T có mặt; bà L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ M trình bày thì:

Do có mối quan hệ quen biết với bà Bùi Thị Mai L, ngày 03/3/2019, bà M có cho bà L vay số tiền 3.700.000.000đ (Ba tỷ, bảy trăm triệu đồng) bằng hình thức hợp đồng vay tiền, thời hạn vay là 14 tháng kể từ ngày 03/3/2019, không tính lãi suất. Tuy nhiên đến hạn trả tiền, bà M đã nhiều lần yêu cầu bà L trả số tiền đã mượn nhưng bà L cứ khất lần không trả. Cho đến ngày 15/6/2020, bà L bị bắt tạm giam về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau đó đi thi hành án tại Phân trại L - Trại giam X, tỉnh Đồng Nai đến nay vẫn chưa trả cho bà M số tiền 3.700.000.000đ (Ba tỷ, bảy trăm triệu đồng).

Nay bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Bùi Thị Mai L phải trả cho bà Nguyễn Thị Lệ M số tiền là 3.700.000.000đ (Ba tỷ bảy trăm triệu đồng) theo Hợp đồng vay tiền lập ngày 03/3/2019 và tiền lãi phát sinh tạm tính từ ngày 03/5/2020 đến ngày 12/5/2025 là: 5 năm 0 tháng 09 ngày x 3.700.000.000đ x 10%/năm = 1.859.250.200đ (Một tỷ, tám trăm năm mươi chín nghìn, hai trăm năm mươi nghìn, hai trăm đồng), tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 12/5/2025 là: 5.559.250.200đ (Năm tỷ, năm trăm năm mươi chín triệu, hai trăm năm mươi nghìn, hai trăm đồng).

Ngoài ra, bà Liên tiếp T1 chịu lãi suất trên số tiền chậm trã cho đến khi Tòa án xét xử vụ án.

Bị đơn bà Bùi Thị Mai L trình bày thì:

Ngày 03/3/2019, bà có lập hợp đồng vay tiền với bà Nguyễn Thị Lệ M, sinh năm: 1976. Địa chỉ: 1 T, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng số tiền là 3.700.000.000đ (Ba tỷ, bảy trăm triệu đồng), thời hạn vay là từ ngày 03/3/2019 đến ngày 03/5/2020, mục đích vay là để kinh doanh. Khi vay chỉ có bà và bà M, không có ai chứng kiến sự việc trên.

Bà M đã giao đủ số tiền là 3.700.000.000đ (Ba tỷ bảy trăm triệu đồng) cho bà bằng tiền mặt.

Nay bà M yêu cầu bà trả số tiền là 3.700.000.000đ (Ba tỷ, bảy trăm triệu đồng) và tiền lãi suất tạm tính 1.788.333.000đ (Một tỷ bảy trăm tám mươi tám triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn đồng) và lãi suất trên số tiền nợ gốc chưa trả cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thì bà đồng ý, không có ý kiến gì, thống nhất toàn bộ với yêu cầu của nguyên đơn, không có yêu cầu gì khác.

Bà khẳng định chữ ký trong Hợp đồng vay tiền ngày 03/3/2019 là của bà.

Do bà đang chấp hành án tại trại giam X nên không thể đến Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt làm việc nên bà đề nghị Tòa án cho tôi được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Bà không có ý kiến gì thêm.

Tại phiên tòa hôm nay,

Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Bùi Thị Mai L phải trả cho bà M số tiền nợ gốc là 3.700.000.000₫ (Ba tỷ, bảy trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh 10%/năm trên số tiền nợ vay chưa trả tạm tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ ngày 03/5/2020 đến ngày 20/6/2025 là 05 năm 01 tháng 17 ngày x 3.700.000.000₫ x 10%/năm = 1.898.305.559đ (Một tỷ, tám trăm chín mươi tám triệu, ba trăm lẻ năm nghìn, năm trăm năm mươi chín đồng), tổng cộng: 5.598.305.559 (Năm tỷ, năm trăm chín mươi tám triệu, ba trăm lẻ năm nghìn, năm trăm năm mươi chín đồng)

Bị đơn bà Bùi Thị Mai L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Theo nội dung trình bày tại biên bản lấy lời khai thì bà L đồng ý trả cho bà M số tiền nợ gốc là 3.700.000.000₫ (Ba tỷ, bảy trăm triệu đồng) và tiền lãi suất phát sinh theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật;

Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận nội dung khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Bùi Thị Mai L có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Lệ M số tiền nợ vay là 3.700.000.000₫ (Ba tỷ, bảy trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ vay chưa trả tạm tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ ngày 03/5/2020 đến nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Xuất phát từ việc nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ M cho rằng bà Bùi Thị Mai L, sinh năm: 1974. Địa chỉ: Số G P, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay theo Hợp đồng vay tiền đã thiết lập giữa hai bên nên ngày 24/3/2025, bà M có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L phải trả cho bà số tiền nợ vay là 3.700.000.000₫ (Ba tỷ, bảy trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh trên khoản nợ vay tạm tính từ ngày vi phạm thực hiện nghĩa vụ ngày 03/5/2020 đến nay.

Qua đó xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]. Về việc xét xử vắng mặt của bị đơn bà Bùi Thị Mai L:

Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn có mặt. Bị đơn bà Bùi Thị Mai L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Xét nội dung tranh chấp thì thấy:

Giữa bà Bùi Thị Mai L và bà Nguyễn Thị Lệ M có thiết lập Hợp đồng vay tiền (không ghi ngày tháng năm lập giấy) với số tiền vay là 3.700.000.000₫ (Ba tỷ, bảy trăm triệu đồng), không thỏa thuận lãi suất, thời hạn vay là 14 tháng tính từ ngày 03/3/2019 đến ngày 03/5/2020 (BL 01, 02). Tuy nhiên cho đến nay đã quá thời hạn trả nợ theo hợp đồng vay tiền được hai bên thiết lập nhưng bà L vẫn không thực hiện cam kết nên bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Bùi Thị Mai L phải trả cho bà số tiền nợ vay là 3.700.000.000₫ (Ba tỷ, bảy trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh là 10%/năm, tạm tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ ngày 03/5/2020 đến ngày xét xử (ngày 20/6/2025) là 05 năm 01 tháng 17 ngày với số tiền là 1.898.305.559đ (Một tỷ, tám trăm chín mươi tám triệu, ba trăm lẻ năm nghìn, năm trăm năm mươi chín đồng), tổng cộng số tiền gốc và lãi phát sinh là 5.598.305.559đ (Năm tỷ, năm trăm chín mươi tám triệu, ba trăm lẻ năm nghìn, năm trăm năm mươi chín đồng)

Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/4/2025 cũng như tại đơn bày ý kiến và xin giải quyết vắng mặt, bị đơn bà Bùi Thị Mai L xác nhận: Ngày 03/3/2019, bà có lập Hợp đồng vay tiền với bà Nguyễn Thị Lệ M số tiền 3.700.000.000đ (Ba tỷ bảy trăm triệu đồng), bà M đã giao đủ số tiền vay cho bà bằng tiền mặt. Nay bà M khởi kiện yêu cầu bà trả cho bà M số tiền nợ vay 3.700.000.000₫ (Ba tỷ, bảy trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa trả cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thì bà đồng ý, thống nhất với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (BL 25, 31).

Đối chiếu với quy định tại Điều 465, khoản 4 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Bùi Thị Mai L có trách nhiệm trả cho bà M số tiền nợ vay là 3.700.000.000đ (Ba tỷ, bảy trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh 10%/năm trên khoản nợ chưa trả, tạm tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ ngày 03/5/2020 đến ngày xét xử (ngày 20/6/2025) là: 05 năm 01 tháng 17 ngày, cụ thể:

- Lãi suất của 05 năm trên số tiền nợ gốc là: (3.700.000.000₫ x 10%/năm) x 05 năm = 1.850.000.000đ (Một tỷ, tám trăm năm mươi triệu đồng)

- Lãi suất của 01 tháng 17 ngày trên số tiền nợ gốc là: (3.700.000.000₫ x 10%/năm) ÷ 12 tháng = 30.833.333đ/tháng (Ba mươi triệu, tám trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng/tháng)

- Lãi suất của 17 ngày trên số tiền nợ gốc là: (30.833.333đ/tháng ÷ 30ngày) x 17 ngày = 1.027.778đ/ngày x 17 ngày = 17.472.226đ (Mười bảy triệu, bốn trăm bảy mươi hai nghìn, hai trăm hai mươi sáu đồng)

Tổng cộng tiền lãi của 05 năm 01 tháng 17 ngày trên khoản nợ gốc 3.700.000.000đ là 1.898.305.559đ (Một tỷ, tám trăm chín mươi tám triệu, ba trăm lẻ năm nghìn, năm trăm năm mươi chín đồng)

Như vậy, tổng số tiền nợ gốc và lãi mà bà Bùi Thị Mai L có trách nhiệm phải trả cho bà Nguyễn Thị Lệ M theo hợp đồng vay tiền được thiết lập giữa hai bên tạm tính từ ngày 03/5/2020 đến ngày xét xử (ngày 20/6/2025) là: 3.700.000.000₫ + 1.898.305.559đ = 5.598.305.559 (Năm tỷ, năm trăm chín mươi tám triệu, ba trăm lẻ năm nghìn, năm trăm năm mươi chín đồng)

[3]. Về án phí:

Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bà Bùi Thị Mai L phải chịu án phí có giá ngạch trên số tiền buộc phải thực hiện nghĩa vụ 5.598.305.559 (Năm tỷ, năm trăm chín mươi tám triệu, ba trăm lẻ năm nghìn, năm trăm năm mươi chín đồng) là 113.598.306đ (Một trăm mười ba triệu, năm trăm chín mươi tám nghìn, ba trăm lẻ sáu đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ M.

Buộc bà Bùi Thị Mai L phải trả cho bà Nguyễn Thị Lệ M số tiền 5.598.305.559 (Năm tỷ, năm trăm chín mươi tám triệu, ba trăm lẻ năm nghìn, năm trăm năm mươi chín đồng), trong đó: số tiền nợ gốc là 3.700.000.000đ (Ba tỷ, bảy trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh trên khoản nợ chưa trả tạm tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ (ngày 03/5/2020) đến ngày xét xử (ngày 20/6/2025) là 1.898.305.559₫ (Một tỷ, tám trăm chín mươi tám triệu, ba trăm lẻ năm nghìn, năm trăm năm mươi chín đồng) theo Hợp đồng vay tiền lập giữa bà Bùi Thị Mai L và bà Nguyễn Thị Lệ M.

Căn cứ Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, kể từ ngày bên được thi hành án dân sự có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền phải trả, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi trên số tiền chưa thi hành án.

2- Về án phí:

- Bà Bùi Thị Mai L phải chịu 113.598.306đ (Một trăm mười ba triệu, năm trăm chín mươi tám nghìn, ba trăm lẻ sáu đồng);

- Căn cứ biên lai thu số 0001959 ngày 01/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Lệ M số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp là 56.744.000đ (Năm mươi sáu triệu, bảy trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với bị đơn bà Bùi Thị Mai L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bên được thi hành án dân sự, bên phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND TP. Đà Lạt;
  • - Chi cục THADS TP. Đà Lạt;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu AV-HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Đặng Thị Thới

(đã ký và đóng dấu)

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT – TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 39/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT – TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU KHỞI KIỆN, BUỘC TRẢ NỢ GỐC VÀ LÃI
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger