Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 39/2025/DS-PT

Ngày 17/02/2025

“Tranh chấp hợp đồng thuê thiết bị"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quang Nhuận.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hoàng Thành.

Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Mỹ Yên, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Như Huỳnh, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 273/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 11 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng thuê thiết bị”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 171/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 307/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1984.
  2. Ông Lê Thanh N, sinh năm 1979.

Cùng nơi cư trú: Số E đường K, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990, nơi cư trú: Số C đường N, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh G, sinh năm 1981, địa chỉ: Số C khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Thanh N là các nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các đơn khởi kiện ngày 19/4/2023, ngày 08/5/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 17/4/2021, tại nhà ông Lê Thanh N và bà Nguyễn Thị T cùng ông Nguyễn Thanh G ký kết hợp đồng thuê thiết bị, hai bên thỏa thuận thống nhất: Bên A (ông N, bà T) cho Bên B (ông G) thuê các thiết bị bao gồm: 01 Máy bơm Cát hiệu Mitsubishi 8 máy DC 9; 01 Máy bơm nước hiệu Mitsubishi 6 máy DC 14; 01 Con Sùng hút 180 gân dài 12m (Sùng gân); 01 con Sùng ra đèn dài 8m (Sùng đen); 01 Cặp bình 120A hiệu Đồng Nai; 200 câu ống Phi 200 loại ống hiệu Hoa Sen (ống đủ dài 4m và mới 90%); 02 ống xịt nước; 01 ly mô sạc 24A; 01 đồ tháo ống. Hai bên thống nhất khi giao nhận máy và các thiết bị kèm theo thì Bên B thanh toán cho Bên A 1 (một) tháng đến 20 (hai mươi) ngày sau khi Bên B thanh toán cho Bên A tháng mới, thời gian thuê tối thiểu là 3 (ba) tháng; giá thuê thỏa thuận là 42.000.000 đồng/tháng (cụ thể 1.400.000 đồng/ngày), khi đến hạn mà Bên B không thanh toán cho Bên A thì sau 03 ngày Bên A đem thiết bị về và chi phí Bên B chịu. Hai bên thống nhất là sau khi hết 3 tháng hợp đồng thì các bên thương lượng lại việc cho thuê, nếu Bên B không tiếp tục thuê thiết bị nữa thì Bên B có trách nhiệm chở thiết bị về tới Sóc Trăng cho Bên A, tập kết tại chỗ bãi Vật liệu xây dựng Tâm D gần Dù Tho mới thuộc xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, chi phí chở thiết bị về thì Bên B chịu, khi trả máy và thiết bị thì máy phải hoạt động bình thường.

Đến ngày 18/02/2022, ông G có lập biên nhận chốt nợ tiền thuê máy bơm tính đến ngày 18/02/2022, ông G còn nợ tiền thuê máy là 02 tháng với số tiền là 84.000.000 đồng (tám mươi bốn triệu đồng) và 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) tiền nợ cũ, tổng cộng là 104.000.000 đồng. Ông G cam kết đến ngày 30 tháng 02 năm 2022 sẽ thanh toán phân nữa số tiền, phần còn lại 10 ngày sau sẽ thanh toán dứt điểm, nhưng kể từ lập biên nhận đến nay ông G không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuê cho bà T và ông N như đã cam kết, cố tình né tránh không trả nợ. Vì vậy, ông Lê Thanh N và bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Thanh G phải trả cho ông Lê Thanh N và bà Nguyễn Thị T số tiền 104.000.000 đồng (một trăm lẻ bốn triệu đồng) theo biên nhận chốt nợ tiền thuê máy bơm ngày 18/02/2022; Buộc ông Nguyễn Thanh G phải tiếp tục trả cho ông Lê Thanh N và bà Nguyễn Thị T tiền thuê thiết bị máy bơm cát tính từ ngày 18 tháng 02 năm 2022 đến ngày 18/4/2023 là 14 tháng, mỗi tháng là 42.000.000 đồng = 588.000.000 đồng. Tổng cộng là 692.000.000 đồng.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh G vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến cung cấp cho Tòa án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 171/2024/DS-ST ngày 06/9/2024, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:

“Tuyên xử:

1/. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh N và bà Nguyễn Thị T. Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh G trả cho ông Lê Thanh N và bà

Nguyễn Thị T số tiền 104.000.000 (một trăm lẻ bốn triệu) đồng theo văn bản “Chốt nợ thuê máy bơm chị T, ngày 18/02/2022 của ông Nguyễn Thanh G”.

2/. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh N và bà Nguyễn Thị T về việc buộc ông Nguyễn Thanh G trả số tiền thuê thiết bị từ ngày 18/02/2022 đến ngày 18/4/2023 với số tiền 588.000.000 đồng.”

Ngoài ra, trong bản án còn quyết định về lãi suất chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 19/9/2024, người đại diện của các nguyên đơn gửi đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết buộc ông Nguyễn Thanh G trả tiền thuê thiết bị từ ngày 18/02/2022 đến ngày 18/4/2023 với số tiền là 588.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện của nguyên đơn giữ yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến: Về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị đơn ông Nguyễn Thanh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa phúc thẩm 02 lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông G.

[2] Xem xét “Hợp đồng thuê thiết bị” lập ngày 17/4/2021 giữa các nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận về việc thuê thiết bị gồm: 01 Máy bơm Cát hiệu Mitsubishi 8 máy DC 9; 01 Máy bơm nước hiệu Mitsubishi 6 máy DC 14; 01 Con Sùng hút 180 gân dài 12m (Sùng gân); 01 con Sùng ra đèn dài 8m (Sùng đen); 01 Cặp bình 120A hiệu Đồng Nai; 200 câu ống Phi 200 loại ống hiệu Hoa Sen (ống đủ dài 4m và mới 90%); 02 ống xịt nước; 01 ly mô sạc 24A; 01 đồ tháo ống. Tiền thuê là 36.000.000đồng/tháng = 1.200.000 đồng/ngày. Nhận thấy nội dung và hình thức hợp đồng các bên ký kết phù hợp với quy định tại các Điều 472, 473 và 474 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có hiệu lực pháp lý.

[3] Căn cứ theo văn bản “Chốt nợ thuê máy bơm chị T” lập ngày 18/02/2022, thể hiện nội dung: “...từ khi thuê thiết máy bơm cát đến nay ngày 18/02/2022, còn nợ 02 tháng tổng số tiền là: 84.000.000đ (tám mươi bốn triệu đồng) với 20.000.000đ cũ (hai mươi triệu), tổng cộng là 104.000.000 đồng, đến ngày 30.02.2022 sẽ thanh toán phân nữa, còn phân nữa 10 ngày sau sẽ thanh toán dứt diểm”. Cấp sơ thẩm xác định ông G còn nợ ông N và bà T số tiền thuê

máy bơm tính đến ngày 18/02/2022 là 104.000.000 đồng đến nay chưa thanh toán, từ đó buộc ông G phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 481 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả tiền thuê thiết bị từ ngày 18/02/2022 đến 18/4/2023 với số tiền 588.000.000 đồng. Nhận thấy, tại khoản 2 Điều I của Hợp đồng thuê thiết bị ngày 17/4/2021 hai bên thỏa thuận “... thời gian thuê tối thiểu là 03 tháng”, Điều II của hợp đồng thỏa thuận: “khi hết hợp đồng 3 tháng hai bên thương lượng lại...”. Đến ngày 18/02/2022, hai bên cũng đã có văn bản chốt nợ tiền thuê thiết bị và trong văn bản chốt nợ các bên không thỏa thuận tiếp tục hợp đồng nên việc các nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục trả tiền thuê thiết bị từ ngày 18/02/2022 đến 18/4/2023 với số tiền 588.000.000 đồng nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên cấp sơ thẩm không chấp nhận là có cơ sở.

[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Lê Thanh N và bà Nguyễn Thị T, chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6] Các nội dung khác trong quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Thanh N và bà Nguyễn Thị T mỗi người phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ông Lê Thanh N và bà Nguyễn Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm 171/2024/DS-ST ngày 06/9/2024, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đã tuyên xử:

“1/. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh N và bà Nguyễn Thị T. Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh G trả cho ông Lê Thanh N và bà Nguyễn Thị T số tiền 104.000.000 (một trăm lẻ bốn triệu) đồng theo văn bản “Chốt nợ thuê máy bơm chị T, ngày 18/02/2022 của ông Nguyễn Thanh G”.

2/. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh N và bà Nguyễn Thị T về việc buộc ông Nguyễn Thanh G trả số tiền thuê thiết bị từ ngày 18/02/2022 đến ngày 18/4/2023 với số tiền 588.000.000 đồng.

3/. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc ông Nguyễn Thanh G phải chịu án phí số tiền 5.200.000 đồng.

Buộc ông Lê Thanh N và bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí số tiền là 27.520.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 15.800.000 đồng mà ông N và bà T

đã tạm ứng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008758 ngày 05/6/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, ông N và bà T còn tiếp tục nộp số tiền 11.720.000 đồng.

4/. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người có quyền thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người bị thi hành án còn phải trả lãi cho người có quyền thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.”

  1. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Thanh N và bà Nguyễn Thị T Bà mỗi người phải chịu án phí là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001979 ngày 25/9/2024 và số 0008546 ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA TA tỉnh;
  • - TAND thành phố Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND thành phố Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Quang Nhuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/DS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng thuê thiết bị

  • Số bản án: 39/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê thiết bị
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger