|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2025/DS-PT
Ngày: 13/02/2025.
V/v: Tranh chấp Quyền sử dụng
đất cho ở nhờ.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang Thư
Các Thẩm phán: 1/ Bà Hồ Thị Tuyết Phương
2/ Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 432/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp Quyền sử dụng đất cho ở nhờ”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 65/2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 538/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Bùi Quốc T, sinh năm 1980.
- Bà Trần Thị P, sinh năm 1981.
- Bà Bùi Thị Kim H, sinh năm 2001.
- Bà Bùi Thị Lan A, sinh năm 2003.
Cùng nơi cư trú: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- + Ông Phạm Ngọc T1, sinh năm 1980; Địa chỉ thường trú: Khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ; Có mặt.
- + Bà Lê Thị Ngọc T2, sinh năm 1995; Địa chỉ thường trú: Số C, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Có mặt.
(Văn bản ủy quyền ngày 10/8/2022).
- Bị đơn:
- Ông Bùi Văn L, sinh năm 1968; Có mặt.
- Bà Trần Thị Bé T3, sinh năm 1973; Có mặt.
Cùng nơi cư trú: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Ngọc L1 – Chi nhánh số 1 Văn phòng L3 (Địa chỉ: Số B P, phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng N1.
Trụ sở: Số B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T4 – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Chí H1 – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N1, Chi nhánh Q; Đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Bùi Ngô C, sinh năm 1974.
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Bùi Ngô Đ, sinh năm 1972.
Nơi cư trú: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ; Đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Bùi Thị Ú, sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo ủy quyền của bà Bùi Thị Ú: Ông Phạm Ngọc T1, sinh năm 1980; Địa chỉ: Khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ (Văn bản ủy quyền ngày 05/4/2022); Có mặt.
- Ông Trần Văn M (Trần Văn M1), sinh năm 1973.
Nơi cư trú: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ; Đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
Ông Bùi Văn L2, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ; Đề nghị xét xử vắng mặt.
* Người kháng cáo:
Bị đơn ông Bùi Văn L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/4/2022, khởi kiện bổ sung và quá trình giải quyết, nguyên đơn (có ông Phạm Ngọc T1 đại diện) trình bày:
Hộ gia đình ông Bùi Quốc T, bà Trần Thị P, chị Bùi Thị Kim H, chị Bùi Thị Lan A là chủ sử dụng thửa đất 137, tờ bản đồ số 06, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00050 cấp ngày 14/10/2002, tổng diện tích 7.545 m². Nguồn gốc phần đất này, ông T được cha ông Bùi Lưu X đại diện gia đình ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (cha cho con). Cha mẹ của ông T là Bùi Lưu X (Bùi Lưu X1 - sinh năm 1937, chết năm 2017) và Ngô Thị Ả (sinh năm 1943, chết năm 2021). Cụ Phạm Thị N (sinh năm 1919, chết năm 2005) là mẹ ông X và là bà nội của ông T.
Vào năm 2022, do quan hệ họ hàng nên ông T có cho ông L, bà T3 ở nhờ trên đất. Ông L và bà T3 có ký tên trong “Đơn cho ở nhờ trên đất và cất nhà”, nội dung thể hiện ông T cho bà T3, ông L ở nhờ trên phần đất diện tích ngang 4,3m x dài 12m, cho ở đến hết đời của ông L, bà T3 - có sự chứng kiến của ông Bùi Văn L2. Tuy nhiên thời gian gần đây, phía bị đơn đã lấn chiếm thêm phần sân và nhà vệ sinh phía sau đất, cản trở lối đi chung.
Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc ông Bùi Văn L và bà Trần Thị Bé T3 tiếp tục thực hiện thỏa thuận về việc ở nhờ trên đất theo “Đơn cho ở nhờ trên đất và cất nhà ngày 11/02/2022”; theo đó, cho bị đơn ở hết đời, không cho sang bán, diện tích cho ở nhờ là vị trí B, một phần diện tích tại vị trí D theo Bản trích đo địa chính số 879/TTKTTNMT ngày 16/8/2023 của Trung tâm K, thành phố Cần Thơ. Đồng thời, yêu cầu các bị đơn tháo dỡ công trình kiến trúc trên đất, trả lại một phần đất thuộc vị trí D của T5 đo (có cạnh sau là 0.96 m, cạnh bên chiều dài là 7.30 m, tại vị trí đo chiều dài 12.12 m, kéo vuông góc với cạnh trên, lấy diện tích đó, để yêu cầu bị đơn phải trả - hiện nay hiện trạng là đã cất nhà kiên cố nên nếu đập bỏ, nguyên đơn đồng ý hỗ trợ 5.000.000 đồng cho phía bị đơn) và tháo dỡ vật kiến trúc xây dựng tại vị trí E theo Bản trích đo.
* Theo đơn phản tố ngày 26/04/2022 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Bùi Văn L, bà Trần Thị Bé T3 trình bày:
Cụ Phạm Thị T6 (mẹ của ông Bùi Văn L) là chị ruột của cụ Phạm Thị N (cụ N là bà nội của ông Bùi Quốc T). Do quan hệ chị em ruột, cụ T6 có ở nhờ trên phần đất của nguyên đơn từ trước năm 1972; đến đời ông L vẫn ở trên phần đất này. Trước đây, cụ T6 xây dựng căn nhà ngang 5m, dài 25m. Năm 1999, ông (L) xây thêm nhà vệ sinh ngang 2,7m, dài 1,8m, diện tích 4,86m². Đến năm 2021, do nhà bị xuống cấp nên ông L xây lại căn nhà mới kiên cố trên đất, được sự đồng ý của ông T vì có nguồn gốc thuộc đất họ tộc; hộ ông T đứng tên bao trùm diện tích đất của cha mẹ ông (phần đất mà hiện ông L vẫn đang sử dụng). Khi xây dựng được một phần ba căn nhà thì ông T ngăn cản, sau khi được địa phương hòa giải ông T tiếp tục cho xây dựng.
Nay nguyên đơn khởi kiện, bị đơn không đồng ý tiếp tục ở nhờ; đồng thời, phản tố yêu cầu công nhận cho ông L, bà T3 diện tích ngang 4,5m x dài 25m, tổng diện tích khoảng 125m².
Sau khi đo đạc thực tế, bị đơn có điều chỉnh yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất thực tế sử dụng tại vị trí B (27.6 m², trong đó có 17,7 m² trong HLLG) và vị trí D (74 m²) theo Bản trích đo số 879 ngày 16/8/2023, tổng cộng là 101,6 m² (trong đó có 17,7 m² trong HLLG).
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn đồng ý tự đập bỏ phần nhà vệ sinh phía sau (phần kí hiệu E) trả lại đất cho nguyên đơn để làm lối đi cho các hộ phía sau đất, không tranh chấp. Còn phần D theo Trích đo, nguyên đơn yêu cầu lấy lại một phần thì không đồng ý vì phần này bị đơn đã xây dựng nhà kiên cố, không đập bỏ được.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan lần lượt thể hiện như sau:
- Ngân hàng N1, Chi nhánh Q trình bày:
Ông Bùi Quốc T và bà Trần Thị P có vay của Ngân hàng N1, Chi nhánh Q (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) số tiền: 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) theo Hợp đồng vay vốn số: 1802LAV202302385 ký ngày 06/10/2023, mục đích vay: Chi phí cải tạo vườn sầu riêng, nhãn; lãi suất 10.5%/năm, lãi suất quá hạn: 15.75%/năm; hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 05/10/2025. Tài sản thế chấp là 01 Giấy chứng nhận quyền sản dụng đất số: 00050QSDĐ, do UBND huyện Ô cấp ngày 14/10/2002 (đính chính lại ngày 28/09/2023 với tổng diện tích là 7.545 m², tọa lạc tại khu vực Rạch S, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Số nợ phải trả đến ngày 05/10/2025: nợ gốc: 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). Lãi đã đóng đến ngày 05/4/2024.
Ông Bùi Quốc T và bà Trần Thị P có cam kết với Ngân hàng sẽ tự giải quyết món nợ trên. Việc tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn thì Ngân hàng xét thấy không có liên quan vì khi giải quyết cho vay không có phát sinh tranh chấp và quá trình cho vay cũng như thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay là quyền sử dụng đất nêu trên thực hiện đúng theo quy định của Ngân hàng cũng như pháp luật quy định. Do đó, Ngân hàng không có ý kiến và yêu cầu gì đến vụ án tranh chấp giữa các bên và xin xét xử vắng mặt.
- Tại Bản tự khai đề ngày 19/7/2024, ông Trần Văn M (Bút lục: 197) trình bày: Ông không có liên quan gì đến việc tranh chấp giữa ông Bùi Quốc T với vợ chồng ông Bùi Văn L. Đối với tranh chấp này tại Tòa án, ông không có ý kiến; đồng thời, đương sự xin giải quyết vắng mặt.
- Các ông/bà Bùi Ngô C Bùi Ngô Đ Bùi Thị Ú(Bút lục: 194, 195, 202)không có Bản tự khai, nhưng có các đơn yêu cầu/đề nghị giải quyết vắng mặt, lồng ghép nội dung về việc đối với vụ án tranh chấp đất giữa ông T với ông L, các đương sự không có ý kiến.
* Người làm chứng ông Bùi Văn L2 (Bút lục: 86) trình bày:
Vào ngày 11/02/2022, ông có chứng kiến làm chứng cho việc ông Bùi Quốc T và ông Bùi Văn L, bà Trần Thị Bé T3 bàn bạc thống nhất và ký kết thỏa thuận cho ở nhờ trên đất. Trong văn bản thỏa thuận nêu rõ: ông T đồng ý cho ông L, bà T3 ở nhờ và cất nhà tạm trên đất, sống đến hết đời; ông L, bà T3 đồng ý và chúng tôi cùng ký tên trên Văn bản thỏa thuận ngày 11/02/2022.
* Tại phiên tòa sơ thẩm,
Phía ông T trình bày: Tại một phần đất thuộc vị trí D, do bị đơn đã cất nhà kiên cố nên đồng ý cho bị đơn ở nhờ trên đất tại vị trí B và D theo Bản trích đo địa chính đến hết đời ông L, hết đời bà T3 theo thỏa thuận trong Đơn cho ở nhờ.
Bà P và người đại diện của bà H, Lan A thống nhất trình bày: Do quyền sử dụng đất đã được chỉnh lý cấp cho ông T nên các bà P, H và Lan A tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn.
Bị đơn ông L, bà T3: Giữ yêu cầu phản tố về công nhận cho bị đơn được quyền sử dụng đất theo diện tích thực tế sử dụng tại vị trí B và D có tổng diện tích 101,6 m² (trong đó có 17,7 m² trong HLLG); theo đó, bị đơn trả giá trị quyền sử dụng đất này cho nguyên đơn số tiền là 100.000.000 đồng; đồng ý tháo dỡ nhà vệ sinh tại vị trí E trả lại đất cho nguyên đơn để làm lối đi cho các hộ phía sau đất.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 65/2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn đã tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Quốc T đối với bị đơn ông Bùi Văn L và bà Trần Thị Bé T3 về quyền sử dụng đất cho ở nhờ.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Bùi Văn L và bà Trần Thị Bé T3 đối với ông Bùi Quốc T về yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất.
- Ông Bùi Văn L và bà Trần Thị Bé T3 được ở nhờ trên phần đất có tổng diện tích 101,6m² (loại đất CLN) gồm tại vị trí B diện tích 27,6m² (có 17,7m² trong HLLG) và vị trí D diện tích 74,0m², theo Bản trích đo địa chính số 879/TTKTTNMT ngày 16/8/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố K, đất thuộc thửa số 137, tờ bản đồ số 06, theo Giấy chứng nhận QSDĐ số 00050, ngày 14/10/2002, do UBND huyện Ô cấp cho hộ ông Bùi Quốc T. Đến ngày 28/9/2023 Chi nhánh Văn phòng Đ1 xác nhận nội dung: “Người sử dụng đất hộ ông Bùi Quốc T ghi tại trang 2 có sai sót, được đính chính lại là ông Bùi Quốc T, theo biên bản kiểm tra hồ sơ ngày 27/9/2023”. Ông Bùi Văn L và bà Trần Thị Bé T3 được ở nhờ trên phần đất này đến hết đời ông L và hết đời bà T3 theo thoả thuận tại “Đơn cho ở nhờ trên đất và cất nhà” ngày 11/02/2022.
Buộc ông Bùi Văn L và bà Trần Thị Bé T3 phải tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc công trình xây dựng tại vị trí E theo Bản trích đo 879/TTKTTNMT ngày 16/8/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố K, giao trả quyền sử dụng đất này lại cho ông Bùi Quốc T.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Bùi Văn L và bà Trần Thị Bé T3 về yêu cầu công nhận quyền sử dụng đối với diện tích 101,6m² tại vị trí vị trí B diện tích 27,6m² (có 17,7m² trong HLLG) và vị trí D diện tích 74,0m², theo Bản trích đo địa chính số 879/TTKTTNMT ngày 16/8/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố K, đất thuộc thửa số 137, tờ bản đồ số 06, theo Giấy chứng nhận QSDĐ số 00050 ngày 14/10/2002, ngày 28/9/2023 chỉnh lý biến động cấp cho ông Bùi Quốc T.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị P, chị B Bùi Thị Kim H và chị Bùi Thị Lan A đối với ông Bùi Văn L và bà Trần Thị Bé T3 về tranh chấp quyền sử dụng đất cho ở nhờ.
(Đính kèm: Bản trích đo địa chính số 879/TTKTTNMT ngày 16/8/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố K, nay là Văn phòng Đăng ký đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C; Đơn cho ở nhờ trên đất và cất nhà ngày 11/02/2022).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 21/7/2024, bị đơn ông Bùi Văn L kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm “Sửa án sơ thẩm”, cho gia đình bị đơn được ổn định sử dụng phần đất diện tích 101,6m² và đồng ý trả giá trị quyền sử dụng đất với số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị đơn giữ nguyên các yêu cầu về kháng cáo, phản tố.
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Luận cứ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn (Luật sư Nguyễn Ngọc L1):
Vào thời điểm, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông X (cha nguyên đơn), mẹ bị đơn đã ở trên đất nhưng không biết gì việc cấp Giấy. Năm 2002, ông T được ông Xê tặng cho quyền sử dụng đất và việc cấp Giấy cho ông T, gia đình bị đơn cũng không được biết. Chỉ đến năm 2022, khi gia đình bị đơn xây dựng nhà vệ sinh, nguyên đơn yêu cầu ký vào Giấy cho ở nhờ và căn cứ vào tờ giấy này để khởi kiện để đòi đất cho ở nhờ.
Thực tế, gia đình bị đơn đã sinh sống nhiều đời ổn định lâu dài trên đất trên 50 năm nay, người được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lẽ ra phải là gia đình của bị đơn. Ngoài ra, người ký tên làm chứng trong Giấy cho ở nhờ là ông Bùi Văn L2 là người có mâu thuẫn với gia đình bị đơn nên cần xem xét lại tính phù hợp của Giấy cho ở nhờ này. Không chỉ thế, phần đất ghi nhận trong Giấy ở nhờ chỉ khoảng 47m² trong khi theo đo đạc thực tế là khoảng 101m² là có sự sai lệch.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo và phản tố của bị đơn, “Sửa bản án sơ thẩm”, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận quyền sử dụng đất mà ông L và bà T3 đang sử dụng, ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn trả giá trị cho nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), vì ngoài phần đất này bị đơn không còn nơi ở nào khác.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ và tình tiết, dữ kiện liên quan cho thấy: Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận phản tố của bị đơn là phù hợp. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử “Giữ nguyên bản án sơ thẩm”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn L trong thời hạn luật định, có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ.
[2] Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, phản tố của bị đơn, ý kiến của đương sự khác và chứng cứ đã thẩm tra cho thấy: Các đương sự tranh chấp về quyền sử dụng đất cho ở nhờ, trong đó bất động sản tranh chấp tọa lạc tại địa giới hành chính quận Ô nên Tòa án nhân dân quận Ô Môn thụ lý, giải quyết và xác định quan hệ pháp luật là có căn cứ, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn, 01/02 bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.
Riêng, đồng bị đơn ông Bùi Văn L cho rằng: Gia đình bị đơn đã ở trên đất từ năm 1972 (từ đời cha mẹ bị đơn cho đến nay), đã cất nhà kiên cố, việc tuyên như Tòa án sơ thẩm là chưa dứt điểm nên đương sự kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm “Sửa án sơ thẩm”, cho gia đình bị đơn được ổn định sử dụng phần đất diện tích 101,6m² và đồng ý trả giá trị quyền sử dụng đất với số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
[4] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, yêu cầu kháng cáo và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử chỉ xem xét phần có kháng cáo theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Xét kháng cáo của đương sự:
Hội đồng xét xử xét thấy:
[5.1] Theo nguyên đơn ông Bùi Quốc T: Trước đây, nguyên đơn và bị đơn đã thiết lập “Đơn cho ở nhờ trên đất và cất nhà ngày 11/02/2022", nhưng bị đơn không thực hiện theo đúng thỏa thuận, còn lấn qua phần đất của nguyên đơn ngoài phạm vi ở nhờ, không phá bỏ nhà vệ sinh làm lối đi chung ra phía sau nên nguyên đơn buộc lòng khởi kiện nhưng vẫn đồng ý cho ông L, bà T3 ở nhờ tại vị trí B, D đến hết đời theo Đơn ngày 11/02/2022 (nêu trên); đồng thời, yêu cầu bị đơn tháo dỡ vật kiến trúc tại vị trí E theo Bản trích đo địa chính thể hiện.
[5.2] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Bùi Văn L cho rằng: Do có mối quan hệ chị em ruột giữa cụ Phạm Thị T6 (mẹ bị đơn L) và cụ Phạm Thị N (bà nội nguyên đơn T) nên cụ N cho cụ T6 ở nhờ trên phần đất tại các vị trí B, D (tranh chấp hiện nay) từ năm 1972. Nguồn gốc đất là của ông bà để lại. Đến năm 1999, ông L có xây thêm nhà vệ sinh ngang 2,7m x dài 1,8m. Khi làm Giấy chứng nhận thì ông T đăng ký bao trùm lên quyền sử dụng của cha mẹ ông là phần đất hiện gia đình ông (L) đang sử dụng. Trên cơ sở đó, ông L, bà T3 phản tố yêu cầu công nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất tại vị trí B, D tổng diện tích 101,6 m² (trong đó có 17,7 m² trong HLLG) theo Bản trích đo địa chính số 879/TTKTTNMT ngày 16/8/2023. Theo đó, bị đơn tự nguyện trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho nguyên đơn với số tiền 100.000.000 đồng và đồng ý tự đập bỏ phần nhà vệ sinh phía sau (vị trí E) trả lại đất cho nguyên đơn để làm lối đi.
Từ sự thừa nhận của bị đơn là cơ sở xác định việc ở nhờ có từ thời cụ Phạm Thị T6 (mẹ bị đơn) tối thiểu là từ năm 1972 cho đến nay. Do đó, việc ở nhờ cho dù bao nhiêu năm vẫn là ở nhờ, ở nhờ có lâu hay rất lâu đều không là căn cứ xác lập quyền sử dụng đất cho người được ở nhờ. Hơn nữa, bị đơn không có bất kỳ giấy tờ gì chứng minh nguồn gốc đất của cha mẹ bị đơn; mà ngược lại thừa nhận do mối quan hệ chị em ruột giữa cụ T6 và cụ N nên cụ Phạm Thị N (bà nội nguyên đơn T) cho cụ Phạm Thị T6 (mẹ bị đơn L) ở nhờ trên đất.
[5.3] Bên cạnh đó, giữa nguyên đơn ông Bùi Quốc T với bị đơn vợ chồng ông Bùi Văn L, bà Trần Thị Bé T3 có thiết lập “Đơn cho ở nhờ trên đất và cất nhà ngày 11/02/2022".
Dẫn chiếu nội dung Đơn cho ở nhờ (nêu trên) thể hiện nội dung như sau:
Tôi tên: Bùi Quốc T.
Nguyên tôi có đứng tên và sử dụng tổng diện tích 300m² đất ở tại đô thị, thửa 137, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc khu vực Rạch S, phường T, quận Ô, TP Cần Thơ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00050 do UBND huyện Ô cấp ngày 14/10/2002.
Nay tôi quyết định cho chú thiếm/thím tôi là ông Bùi Văn L và bà Trần Thị Bé T3. một miếng đất ngang 4,3m, dài 12m, đất tọa lạc tại khu vực Rạch S, phường T, quận Ô, TP Cần Thơ để cất nhà ở với điều kiện là chỉ ở hết đời chú thiếm tôi, không được sang bán lại cho người khác dưới bất kỳ hình thức nào, khi chú thiếm qua đời hoặc có điều kiện di dời đến chỗ ở khác thì không được quyền đòi hỏi bất cứ điều kiện gì và phải trả lại đất cho tôi vô điều kiện.
(Có ký, xác nhận họ tên lần lượt của các bên gồm: người cho ở nhờ Bùi Quốc T; người ở nhờ Bùi Văn L, Trần Thị Bé T3 và nhân chứng Bùi Văn L2).
Riêng tại phiên tòa phúc thẩm, trình bày luận cứ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng: ông Bùi Văn L2 có mâu thuẫn với gia đình bị đơn nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh kèm theo. Nên lời khai của người làm chứng ông L2 về việc chứng kiến các bên bàn bạc thống nhất và ký kết thỏa thuận cho ở nhờ trên đất theo Đơn ngày 11/02/2022 (Bút lục: 86) được xem là vô tư khách quan để xem xét đánh giá chung trong tổng thể các tình tiết và nhằm xác định sự thật của vụ án.
[5.4] Quá trình giải quyết sơ thẩm, ông L không thừa nhận ký tên xác lập trong Đơn ở nhờ nêu trên, nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh, không yêu cầu giám định chữ ký. Cho đến tại phiên tòa phúc thẩm, bà T3 cho rằng: bà có ký tên và đồng thời ký dùm phần mang tên ông Bùi Văn L. Xét bà T3, ông L là vợ chồng có quyền lợi, nghĩa vụ tương đồng nhau; nhưng bản thân bà T3 ký xác nhận sự việc và thực tế vợ chồng bà T3, ông L chung sống cùng nhau nên đây là cơ sở xác định vợ chồng bà T3 – ông L xác nhận và biết việc xác nhận chung là có thật theo tinh thần hướng dẫn tại Án lệ số 04/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 06/4/2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh Án Tòa án nhân dân Tối cao.
Hơn nữa, suốt tiến trình tố tụng tại Tòa án, ông L đã luôn trình bày rõ việc ở nhờ nên là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, không chấp nhận yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký trong Đơn cho ở nhờ của ông L, bà T3 tại cấp phúc thẩm. Như vậy, đã xác định sự việc ở nhờ và nguyên đơn không đồng ý phương án bị đơn nêu ra về ổn định sử dụng đất và trả giá trị nên việc yêu cầu định giá tài sản tranh chấp là không cần thiết, vì vậy không chấp nhận yêu cầu này của bị đơn (tại cấp phúc thẩm).
[5.4] Việc bị đơn khai khi làm Giấy chứng nhận, ông T đăng ký bao trùm lên quyền sử dụng của cha mẹ ông là phần đất hiện gia đình ông (L) đang sử dụng; nhưng suốt quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, đơn kháng cáo và phiên tòa phúc thẩm, bị đơn luôn thể hiện ý chí: đồng ý trả giá trị quyền sử dụng đất cho nguyên đơn với số tiền 100.000.000 đồng. Điều này cho thấy sự mâu thuẫn trong lời khai và ý chí thể hiện nên không có cơ sở chấp nhận phản tố của bị đơn về công nhận quyền sử dụng đất.
[6] Trên cơ sở Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000212 ngày 31/7/1991 cấp cho ông Bùi Lưu X1 (Bùi Lưu X, cha nguyên đơn), sau đó chuyển giao cho nguyên đơn và ông Bùi Quốc T đã được công nhận quyền sử dụng hợp pháp (trong đó bao gồm thửa 137) theo quy định của pháp luật thể hiện tại trích lục hồ sơ địa chính và phúc đáp của Ủy ban nhân dân quận Ô (Bút lục: 88 -> 112) nên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00050 do Ủy ban nhân dân huyện Ô (cũ) cấp ngày 14/10/2002 (có chỉnh lý ngày 28/9/2023 cho ông Bùi Đức T7) đảm bảo giá trị pháp lý để xem xét khi giải quyết tranh chấp giữa các đương sự. Do đó, nguyên đơn khởi kiện là có căn cứ.
[6.1] Việc nguyên đơn tự nguyện cho từng bị đơn ở đến hết đời được xem là có lý có tình trong mối quan hệ họ tộc và tạo điều kiện cho nhau trong đời sống nhân dân nên Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận là thỏa đáng.
[6.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cho rằng: chỉ cho ở hết đời bị đơn là chưa đảm bảo quyền lợi cho con bị đơn. Đây là lý do không chính đáng nên không đặt ra xem xét, bởi lẽ mọi người đều cần phải lao động chăm chỉ để có nguồn thu nhập chân chính nhằm tạo lập nơi ở và điều kiện sinh sống theo nhu cầu cuộc sống của từng người.
Đối với ý kiến về việc trả giá trị quyền sử dụng đất để sử dụng ổn định, góc độ nguyên đơn không đồng ý phương án này nên không có cơ sở xem xét thỏa mãn.
[7] Với những cơ sở đã viện dẫn, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về quyền sử dụng đất cho ở nhờ là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015 và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về công nhận quyền sử dụng đất là phù hợp với nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp nên không có cơ sở chấp nhận.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên đương sự phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
[9] Những phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành và đảm bảo giá trị pháp lý ràng buộc. Tuy nhiên, cấp phúc thẩm có điều chỉnh về cách tuyên trong khuôn khổ luật định.
Bên cạnh đó, có vấn đề cần nhắc nhở chung như sau: Theo vụ án xác định, bên cạnh nguyên đơn, bị đơn, còn bao gồm 05 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và 01 người làm chứng nhưng trong phần “Nội dung vụ án” của bản án sơ thẩm chỉ thể hiện trình bày của nguyên - bị đơn và 01/05 người liên quan, cũng không nêu lý do những người khác không có lời khai/ý kiến chẳng hạn. Trong khi, người liên quan khác, người làm chứng đã có Bản tự khai hoặc có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên việc không thể hiện này là thiếu sót, không theo tinh thần hướng dẫn Mẫu số 52-DS về cách viết bản án sơ thẩm tại Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Vấn đề này đã được cấp phúc thẩm khắc phục và bổ sung trong bản án. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm chung để đảm bảo bản án phải được thể hiện đầy đủ, cụ thể, rõ ràng để công dân có thể tiếp cận và đúc kết cho mình khi tham gia giao dịch trong nhân dân.
[10] Từ những phân tích trên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Luận cứ của Luật sư bị đơn không có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn L.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 65/2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ (có điều chỉnh về cách tuyên).
Áp dụng:
- Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Các Điều 166 và 203 Luật Đất đai năm 2013.
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Quốc T về quyền sử dụng đất cho ở nhờ.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Bùi Văn L và bà Trần Thị Bé T3 về yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất.
- Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn cho ông Bùi Văn L và bà Trần Thị Bé T3 ở nhờ trên phần đất có tổng diện tích 101,6m² (loại đất CLN) gồm: vị trí B, diện tích 27,6m² (có 17,7m² trong HLLG) và vị trí D, diện tích 74,0m² theo Bản trích đo địa chính số 879/TTKTTNMT ngày 16/8/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố K – đất thuộc thửa số 137, tờ bản đồ số 06 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00050 do Ủy ban nhân dân huyện Ô (cũ) cấp ngày 14/10/2002 (có chỉnh lý ngày 28/9/2023) cho ông Bùi Đức T7 đứng tên.
Ông Bùi Văn L và bà Trần Thị Bé T3 được ở nhờ trên phần đất(nêu trên) đến hết đời ông L và hết đời bà T3 theo thỏa thuận tại “Đơn cho ở nhờ trên đất và cất nhà ngày 11/02/2022”.
- Buộc ông Bùi Văn L và bà Trần Thị Bé T3 tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc công trình xây dựng tại vị trí E theo Bản trích đo địa chính, để trả lại quyền sử dụng đất này cho ông Bùi Quốc T.
Gửi kèm: Bản trích đo địa chính số 879/TTKTTNMT ngày 16/8/2023.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bị đơn ông Bùi Văn L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004728 ngày 24/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ thành án phí phải chịu (đã thực hiện xong).
- Những phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên thi hành theo phần quyết định của bản án sơ thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Trang Thư |
Bản án số 39/2025/DS-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất cho ở nhờ
- Số bản án: 39/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Quyền sử dụng đất cho ở nhờ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Quyền sử dụng đất cho ở nhờ.
