Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày 20-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thạch

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hồng

2. Bà Hoàng Thị Thu Lâm

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 06 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS, ngày 28 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 07/6/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị L; tên gọi khác: Trần Thị H; Sinh ngày 13/10/1971, tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Số thẻ ăn"căn cước công dân: [...], cấp ngày 09/4/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú và chổ ở hiện nay: thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch:Việt Nam;Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán hàng tạp hoá; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Con ông: Trần Ngọc T (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1946; A, chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ năm; Chồng: Trần Thế D; Sinh năm: 1976; Con: có 03 đứa, đứa lớn sinh năm 1998, đứa nhỏ sinh năm 2007 và đều cư trú quán tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 01/3/2024 đến ngày 08/3/2024 và bị khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lê Phương T2, sinh năm: 1986; Nghề nghiệp: Buôn bán; địa chỉ: Thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt tại phiên tòa)
  2. Nguyễn Thị T3; sinh năm: 2000; Nghề nghiệp: Buôn bán; địa chỉ: Xóm C, xã K, huyện K, tỉnh Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt tại phiên tòa)
  3. Cháu Trần Thị Thu H1; sinh năm: 2006; Nghề nghiệp: Học sinh; địa chỉ: Thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt tại phiên tòa)

* Người đại diện hợp pháp cho cháu Trần Thị Thu H1: ông Trần Thế D, sinh năm 1976 (cha đẻ của cháu Trần Thị Thu H1); địa chỉ: Thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/02/2023, Trần Thị L cho bà Lê Phương T2, ở thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh vay số tiền 100.000.000 đồng để lấy lãi, thời hạn vay 06 tháng, hạn trả nợ cuối cùng là ngày 08/8/2023. Để che dấu hành vi cho vay lãi nặng của mình, Trần Thị L ghi lãi suất cho vay trên giấy vay tiền là 10% năm, nhưng thực tế Trần Thị L và chị Lê Phương T2 thỏa thuận với nhau lãi suất cho vay 3.000 đồng/1.000.000 đồng tiền vay/ngày (9.000.000 đồng tiền lãi/tháng, tương đương với lãi suất 108%/năm). Số tiền lãi của khoản tiền vay 100.000.000 đồng mà Lê Phương T2 phải trả cho Trần Thị L tính đến ngày 08/8/2023 là: (06 tháng x 9.000.000đ) = 54.000.000đ. Quá trình trả tiền lãi vay, bà Lê Phương T2 chuyển khoản trả cho Trần Thị L tiền lãi của 05 tháng, với tổng số tiền 45.000.000 đồng.

Trong quá trình trả lãi vay, do một số lần tài khoản của mình bị lỗi nên Trần Thị L cung cấp số tài khoản của Trần Thị Thu H1Nguyễn Thị Vân A (con gái của Trần Thị L) để 03 lần Lê Phương T2 chuyển tiền trả lãi đến tài khoản của Trần Thị Thu H1Nguyễn Thị Vân A với tổng số tiền là 27.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền trong tài khoản, Trần Thị Thu H1Nguyễn Thị Vân A chuyển trả lại cho Trần Thị L. Khi đề nghị cung cấp số tài khoản để Lê Phương T2 chuyển tiền, Trần Thị L nói dối là tiền khách chuyển trả tiền mua hàng, nên Trần Thị Thu H1Nguyễn Thị Vân A không biết đó là tiền lãi mà Trần Thị L cho vay lãi nặng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự là 20%/năm, thì số tiền lãi cao nhất mà Lê Phương T2 phải trả cho Trần Thị L trên số tiền vay 100.000.000 đồng là: (100.000.000₫ x (20% : 12 tháng) x 06 tháng) = 10.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo nhằm đạt được từ việc cho Lê Phương T2 vay lãi nặng là: 54.000.000₫ - 10.000.000đ = 44.000.000 đồng.

Ngày 08/8/2023, đến hạn trả nợ tiền gốc theo thỏa thuận nhưng do khó khăn về tài chính nên Lê Phương T2 chưa trả được nợ gốc cho Trần Thị L, vì vậy Trần Thị L đồng ý cho chị Lê Phương T2 tiếp tục vay số tiền gốc 100.000.000đ (kéo dài thời hạn trả nợ) và thỏa thuận lại số tiền lãi vay là 2.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương với lãi suất 73%/năm), mức lãi suất gấp 3,65 lần so với mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoảnĐiều 468 Bộ luật dân sự. Ngày 21/9/2023, Lê Phương T2 đã trả cho Trần Thị L 5.000.000đ tiền lãi của tháng 8 năm 2023 và kể từ đó đến ngày bị phát hiện (ngày 01/3/2024), Lê Phương T2 chưa trả tiền gốc và tiền lãi cho Trần Thị L.

Trong quá trình điều tra, Trần Thị L còn tự nguyện khai nhận: Ngày 19/6/2023, Trần Thị L cho bà Nguyễn Thị T3, ở xóm C, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh vay số tiền 100.000.000 đồng. Khi cho vay, Trần Thị L viết giấy vay nợ với số tiền 100.000.000 đồng, nhưng không ghi thời hạn trả nợ và mức lãi suất vào trong giấy vay nợ, nhưng thoả thuận với nhau là lãi suất cho vay của số tiền gốc 100.000.000 đồng là 10.000.000đồng/tháng (tương đương lãi suất 120%/năm). Tính đến ngày 01/3/2024 (ngày tự thú khai nhận ra hành vi trên), số tiền lãi mà Nguyễn Thị T3 phải trả cho Trần Thị L là: (08 tháng x 10.000.000 đồng) + (10.000.000 đồng: 30 ngày x 11 ngày) = 83.666.667 đồng. Quá trình trả tiền lãi vay, Nguyễn Thị T3 mới trả cho Trần Thị L được 24.000.000 đồng, trong đó: lãi của tháng 8/2023 là 10.000.000 đồng; lãi của tháng 12/2023 là 10.000.000đ và lãi của tháng 10/2023 là 4.000.000 đồng; còn lại các tháng khác Nguyễn Thị T3 chưa trả tiền lãi vay cho Trần Thị L. Trong quá trình trả lãi vay, do tài khoản của mình bị lỗi nên Trần Thị L cung cấp số tài khoản của Trần Thị Thu H1 (con gái của Trần Thị L) để ngày 02/10/2023, Nguyễn Thị T3 chuyển trả 4.000.000 đồng tiền lãi đến tài khoản của Trần Thị Thu H1. Sau khi nhận tiền trong tài khoản, Trần Thị Thu H1 chuyển trả lại cho Trần Thị L. Khi đề nghị cung cấp số tài khoản để Nguyễn Thị T3 chuyển tiền, Trần Thị L nói dối là tiền khách chuyển trả tiền mua hàng, nên Trần Thị Thu H1 không biết đó là tiền lãi mà Trần Thị L cho vay lãi nặng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự là 20%/năm, thì số tiền lãi cao nhất mà Nguyễn Thị T3 phải trả cho Trần Thị L là: (100.000.000₫ x 20% : 12 tháng) x 08 tháng 11 ngày = 13.944.400 đồng. Số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo nhằm đạt được từ việc cho Nguyễn Thị T3 vay lãi nặng là: 83.666.667 đồng - 13.944.438 đồng = 69.722.229 đồng.

Tổng số tiền thu lợi bất chính từ việc cho Lê Phương T2Nguyễn Thị T3 vay lãi nặng mà bị cáo nhằm đạt được là 44.000.000 đồng + 69.722.229 đồng = 113.722.229 đồng.

Với hành vi trên, tại Bản cáo trạng số 43/CT-VKSTXKA ngày 23/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Trần Thị L về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

* Bị cáo Trần Thị L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố và đồng ý với quyết định truy tố.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Trần Thị L về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự; căn cứ Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị L số tiền từ 200 triệu đồng đến 300 triệu đồng; Đề nghị về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Lê Phương T2 số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước; Tịch thu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Nguyễn Thị T3 số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước; Tịch thu 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) tiền thu lợi bất chính của bị cáo Trần Thị L để nộp ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) mà bị cáo đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009101 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; Buộc bị cáo Trần Thị L phải trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Lê Phương T2 số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo đã nhận là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng); Buộc bị cáo Trần Thị L phải trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Nguyễn Thị T3 số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo đã nhận là 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng); Tịch thu và tiêu hủy: 01 thẻ ngânhàng BIDV mang tên Trần Thị L, số thẻ 9704180000016854622 là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng; Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án Trần Thị Thu H1 01 thẻ N1, mang tên Trần Thị Thu H1, số thẻ 9704079958384061.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt vì phạm tội lần đầu và hoàn cảnh gia đình khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã K, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Kiểm sát viên quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 08/02/2023, Trần Thị L cho Lê Phương T2 ở thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh vay số tiền 100.000.000 đồng để lấy lãi, thời hạn vay 06 tháng, hạn trả nợ cuối cùng là ngày 08/8/2023, với lãi suất cho vay 3.000 đồng/1.000.000 đồng tiền vay/ngày (9.000.000 đồng tiền lãi/tháng) tương đương với lãi suất 108%/năm, gấp 5,4 lần so với mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự và nhằm thu lợi bất chính số tiền 44.000.000 đồng. Ngày 19/6/2023 cho bà Nguyễn Thị T3, ở xóm C, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh vay số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn vay 08 tháng 11 ngày kể từ ngày 19/6/2023 cho đến ngày 01/3/2024 (ngày tự thú), với mức tiền lãi 10.000.000 đồng/tháng, tương đương mức lãi suất 120%/ năm, gấp 6 lần so với mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự và nhằm thu lợi bất chính số tiền 69.722.000 đồng.

Với hành vi cho bà Lê Phương T2 vay lãi nặng với mức lãi suất gấp 5,4 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự và nhằm thu lợi bất chính số tiền 44.000.000 đồng và cho bà Nguyễn Thị T3 vay lãi nặng với mức lãi suất gấp 06 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự và nhằm thu lợi bất chính số tiền 69.722.000 đồng; tổng số tiền thu lợi bất chính trong 2 lần cho vay lãi nặng là 113.722.000 đồng, bị cáo Trần Thị L đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự; Vì vậy, Bản Cáo trạng số 43/CT-VKS-TXKA ngày 23-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố, đề nghị xét xử bị cáo về tội danh, điều luật quy định như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích của công dân do đó cần phải xử lý nghiêm theo luật định.

Trong vụ án này người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Thu H1 (con của bị cáo), bị cáo đã dùng số tài khoản ngân hàng của Trần Thị Thu H1 để nhận tiền lãi từ Lê Phương T2Nguyễn Thị T3, nhưng Trần Thị Thu H1 không biết rõ đây là khoản tiền lãi cao trong giao dịch dân sự, không có lỗi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với hành vi của bị cáo Trần Thị L tiếp tục cho bà Lê Phương T2 vay số tiền gốc 100.000.000đ (kéo dài thời hạn trả nợ) và thỏa thuận lại số tiền lãi vay là 2.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương với lãi suất 73%/năm), mức lãi suất gấp 3,65 lần so với mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoảnĐiều 468 Bộ luật dânvà số tiền lãi đã nhận 5.000.000 đồng, chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên chỉ xem xét trong quyết định hình phạt.

[3]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo cho 2 người vay lãi nặng nên “Phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải và trong giai đoạn điều tra đã tự khai nhận ra hành vi cho bà Nguyễn Thị T3 vay lãi nặng khi chưa ai biết sự việc nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự thú quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Trần Ngọc T đã được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, hạng N và có thời gian tham gia dân công hoả tuyến; bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính 05 triệu đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh nên được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và bị cáo được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong trường hợp phạm tội chưa đạt đối với lần phạm tội cho bà Nguyễn Thị T3 vay tiền (thu lợi bất chính dưới 30 triệu đồng, thực tế thu được 24 triệu đồng) theo quy định tại Điều 15 và khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự theo hướng dẫn tại khoản 5 Điều 7 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

[5]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú về hành vi cho Nguyễn Thị T3 vay lãi nặng và lần đầu bị xét xử và tội phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội cho Nguyễn Thị T3 vay lãi nặng thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo hướng dẫn tại khoản 5 Điều 7 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; hành vi phạm tội của bị cáo giản đơn, không có tính chất chuyên nghiệp, không hoạt động dưới hình thức băng ổ nhóm nên căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự và căn cứ vào Điều 3 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, thì áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận theo quy định pháp luật.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo và bị cáo không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép trong hoạt động tín dụng, cầm cố tài sản nên không có căn cứ để cấm hành nghề đối với bị cáo.

[7]. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • Xét số tiền 100.000.000 đồng mà bị cáo Trần Thị L cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Lê Phương T2 vay là khoản tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm, là phương tiện phạm tội và khoản tiền này hiện đang do bà Lê Phương T2 giữ nên tịch thu của bà Lê Phương T2 số tiền 100.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
  • Xét số tiền 100.000.000 đồng mà bị cáo Trần Thị L cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Nguyễn Thị T3 vay là khoản tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm, là phương tiện phạm tội và khoản tiền này hiện đang do bà Nguyễn Thị T3 giữ nên tịch thu của bà Nguyễn Thị T3 số tiền 100.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
  • Xét số tiền lãi mà Trần Thị L đã thu từ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Lê Phương T2, theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự: 100.000.000đ x lãi suất 20%/năm x 05 tháng= 8.333.333 đồng, là khoản tiền thu lợi bất chính mà bị cáo có được từ việc cho người vay, nên tịch thu khoản tiền này từ bị cáo Trần Thị L nộp ngân sách Nhà nước; Xét số tiền lãi mà Trần Thị L đã thu từ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà Nguyễn Thị T3, theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự: 100.000.000₫ x lãi suất 20%/năm x 03 tháng (mới thu được lãi của tháng 8/2023 là 10.000.000 đồng; lãi của tháng 10/2023 là 4.000.000 đồng và lãi của tháng 12/2023 là 10.000.000 đồng) = 5.000.000 đồng, là khoản tiền thu lợi bất chính mà bị cáo có được từ việc cho người vay, nên tịch thu khoản tiền này từ bị cáo Trần Thị L nộp ngân sách Nhà nước; Xét số tiền lãi mà Trần Thị L đã thu từ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Lê Phương T2 5.000.000đ tiền lãi của tháng 8 năm 2023 thì theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Khoản 1, Điều 468 Bộ luật dân sự: 100.000.000₫ x 20% : 12= 1.666.666 đồng. Đây là số tiền thu lợi bất chính nên tịch thu từ Trần Thị L để nộp Ngân sách Nhà nước. Tổng số tiền thu lợi bất chính tịch thu từ bị cáo Trần Thị L để nộp Ngân sách Nhà nước là 8.333.333 đồng + 5.000.000 đồng + 1.666.666 đồng = 14.999.999 đồng (quy tròn thành 15.000.000 đồng), nhưng bị cáo được trừ số tiền 5.000.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009101 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
  • Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Lê Phương T2 số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo đã thu của người vay vượt quá lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự: 50.000.000đ- (8.333.333đ+ 1.666.666đ)= 40.000.000 đồng.
  • Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Nguyễn Thị T3 số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo đã thu của người vay tiền: 24.000.000 đồng – 5.000.000 đồng (20%/năm, quy định khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự) = 19.000.000 đồng.
  • Tịch thu và tiêu hủy: 01 thẻ ngân hàng B mang tên Trần Thị L, số thẻ 9704180000016854622 là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng;
  • Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án Trần Thị Thu H1 01 thẻ ngân hàng T4, mang tên Trần Thị Thu H1, số thẻ 9704079958384061.
  • Xét vật chứng là 2 chiếc điện thoại mà cơ quan điều tra đã tiền hành thu giữ và đã trả lại cho bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[8] .Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 35, Điều 331, Điều 333 Bộ luật hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 1, khoản 2 Điều 106; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban ường"thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử,

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt Trần Thị L 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng).
  3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
    • Tịch thu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Lê Phương T2 số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
    • Tịch thu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Nguyễn Thị T3 số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
    • Tịch thu 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) tiền thu lợi bất chính của bị cáo Trần Thị L để nộp ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009101 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, số tiền phải nộp tiếp 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
    • Buộc bị cáo Trần Thị L phải trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Lê Phương T2 số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo đã nhận là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
    • Buộc bị cáo Trần Thị L phải trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Nguyễn Thị T3 số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo đã nhận là 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng).
    • Tịch thu và tiêu hủy: 01 thẻ ngânhàng BIDV mang tên Trần Thị L, số thẻ 9704180000016854622 là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng;
    • Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án Trần Thị Thu H1 01 thẻ N1, mang tên Trần Thị Thu H1, số thẻ 9704079958384061.

    (Tình trạng các vật chứng trên có tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/5/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an thị xã K với Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh).

  4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thị L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
  TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
  THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
  Nguyễn Ngọc Thạch

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND thị xã Kỳ Anh;
  • - Công an thị xã Kỳ Anh;
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - Chi cục THADS thị xã Kỳ Anh;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Người đại diện của người có QL &NVLQ;
  • - Lưu: HS; VP-TA.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 39
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger