Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐAKRÔNG

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày: 14/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Xuân Nam.

2. Ông Nguyễn Đức Hoành Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mỹ Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đakrông.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đakrông tham gia phiên tòa: Ông Phan Lê Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST - HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 28/2024/QĐXXST - HS ngày 19 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo: Trần Thị L, sinh ngày: 23/01/1977 tại Quảng Trị; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: khu phố A, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T (đã chết) và bà Lê Thị T1; gia đình có 09 anh em, bị cáo là con thứ tám; có chồng là Hoàng Hữu D (đã chết); có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2005; tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 22/12/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xử phạt 70.000.000 đồng về tội “Buôn bán hàng cấm” tại bản án số 39/2023/HSST.

Nhân thân: Ngày 22/9/2020, bị Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính 5.000.000 đồng về hành vi “Buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu”; Ngày 13/8/2021, bị Công an P1, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Bán bảng đề phục vụ cho việc đánh lô, đề”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2024 đến ngày 11/6/2024 thì cho bảo lĩnh. Bị cáo hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Hữu D, sinh năm: 1969. Địa chỉ: khu phố A, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (đã chết ngày 19/8/2016 theo trích lục khai tử ngày 28/3/2018).

* Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Hữu D:

  1. Lê Thị M (mẹ), sinh năm: 1940. Địa chỉ: khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  2. Anh Hoàng Hữu P (con), sinh năm: 1999. Địa chỉ: tổ F, khu phố A, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
  3. Chị Hoàng Thị Thu T2 (con), sinh năm: 2005. Địa chỉ: tổ F, khu phố A, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Sáng ngày 10/4/2024, Trần Thị L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đen, biển số 74C1 – 101.00 (mang tên chủ xe ông Hoàng Hữu D) đi từ nhà lên xã T, huyện H để giải quyết công việc cá nhân. Tại dốc L, xã T, Trần Thị L gặp một người phụ nữ (không xác định được lai lịch) đến trao đổi việc thuê vận chuyển pháo hoa nổ về thành phố Đ và trả tiền công nên Trần Thị L đồng ý. Sau đó, người phụ nữ giao cho Trần Thị L 01 bao nilon màu đen, bên trong có chứa 08 hộp pháo hoa nổ và 300.000 đồng tiền công vận chuyển và dặn đưa về ngã tư bệnh viện đa khoa tỉnh Q sẽ có người đến nhận hàng. Trần Thị L đã cho 08 hộp pháo vào trong 03 túi nilon, lấy đồ dùng cá nhân của mình bỏ lên trên nhằm che giấu pháo rồi điều khiển xe mô tô chạy về hướng thành phố Đ. Đến 11 giờ 35 phút cùng ngày, khi đến km 42 + 971 Quốc lộ I, thuộc địa phận thôn K, xã Đ, huyện Đ bị tổ công tác của Công an huyện Đ dừng xe kiểm tra, phát hiện hành vi vận chuyển pháo hoa nổ nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tài liệu, đồ vật theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số: 481/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 10,8 kg.

Cáo trạng số: 37/CT-VKSĐKR ngày 26/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông truy tố bị cáo Trần Thị L về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Thị L từ 09 đến 12 tháng tù nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2024 đến ngày 11/6/2024. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 651 của Bộ luật Dân sự:

Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm 07 hộp pháo hoa nổ đã niêm phong trong 01 thùng giấy, ký hiệu P bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q (Vật chứng hiện Công an huyện Đ đang bảo quản);01 túi nilon trong suốt, kích thước (58x36)cm; 01 túi nilon màu đen, kích thước (57x34)cm; 01 túi nilon màu hồng, bên ngoài có dòng chữ “Tran Viet Ha”, kích thước (37x26)cm; 01 túi nilon màu đen, kích thước (50x31)cm; 01 túi nilon màu đen, kích thước (58x36)cm; 01 túi nilon màu vàng, kích thước (47x36)cm; 01 túi nilon màu vàng, bên ngoài có dòng chữ “Thai Tuan” kích thước (40x30)cm; 01 mũ vải màu tím (dạng mũ trùm, kín đầu), kích thước (41x45)cm (đều mở niêm phong BG1).02 chiếc găng tay vải màu xám, chấm nâu; 01 khăn quàng cổ màu đỏ; 01 kính mắt màu hồng; 01 khăn vải màu xanh, trắng; 01 túi nilon màu đen, kích thước (44x31)cm; 01 túi nilon màu xanh, kích thước (33x55)cm; 01 túi nilon màu xanh, kích thước (34x56)cm; 01 túi nilon màu xanh, đã bị rách một phần không rõ hình dạng kích thước; 01 túi nilon màu vàng, kích thước (45x30)cm; 01 túi nilon màu đỏ, bên ngoài có dòng chữ “YẾN SÀO CAO CẤP KHÁNH HÒA”, kích thước (35x25)cm; 01 túi nilon màu trắng, kích thước (42x31)cm; 01 túi nilon màu trắng, kích thước (58x34)cm (đều mở niêm phong BG2).

Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước 5/8 trị giá của chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đen bạc, biển số 74C1 – 101.00; số máy 5C61154907, số khung C6107Y154907 xe đã qua sử dụng.

Hoàn trả cho bà Lê Thị M, chị Hoàng Thị Thu T2 và anh Hoàng Hữu P mỗi người 1/8 trị giá của chiếc xe nói trên.

Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng là tiền thu lợi bất chính do bị cáo Trần Thị L phạm tội mà có.

Về án phí: Bị cáo Trần Thị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên huyện Đ: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh: Ngày 10/4/2024, Trần Thị L có hành vi vận chuyển 08 hộp pháo hoa nổ từ xã T, huyện H về thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị để nhận tiền công. Khi đến Km 42 + 971 quốc lộ I, thuộc địa phận thôn K, xã Đ, huyện Đ bị bắt quả tang. Kết luận giám định số: 481/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật được niêm phong trong các thùng giấy ký hiệu P gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 10,8 kg.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị L khai nhận toàn bộ 08 hộp pháo hoa nổ nói trên bị cáo đã nhận vận chuyển của một người phụ nữ không xác định được lai lịch từ xã T, huyện H về thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị để được nhận tiền công vận chuyển 300.000 đồng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được, khẳng định hành vi của bị cáo Trần Thị L cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Trần Thị L theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở.

[3] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi: Hành vi vận chuyển 10,8 kg pháo hoa nổ của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, lưu hành và sử dụng. Bị cáo Trần Thị L là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm nhưng do hám lợi mà bị cáo vẫn bất chấp các quy định của pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Tình tiết tăng nặng: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HS - ST ngày 22/12/2023, bị cáo Trần Thị L đã bị Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xử phạt 70.000.000 đồng về tội “Buôn bán hàng cấm” bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Thị L đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội (Án lệ số 48/2021/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25/11/2021); nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Nộp lại tiền thu lợi bất chính” (Căn cứ khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự).

Về hình phạt: Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xử phạt hình phạt tiền về tội “Buôn bán hàng cấm” và trước đó đã từng bị Cơ quan Công an nhiều lần xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo không lấy đó làm bài học; tiếp tục phạm tội mới khi chưa được xóa án tích chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Mặt khác, hiện nay tình hình vận chuyển, buôn bán hàng cấm trên tuyến đường Q, tỉnh Quảng Trị diễn ra phức tạp và ngày càng có xu hướng tăng nhanh. Đồng thời để phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, cần xử phạt nghiêm; cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian, xử phạt tù mới có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo tuân theo pháp luật, ngăn ngừa phạm tội mới, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm chung. Tuy nhiên khi lượng hình cần căn cứ vào tình tiết tăng nặng giảm nhẹ để lên một mức án phù hợp với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo.

Bị cáo hiện đang thực hiện biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Cần tiếp tục thực hiện biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo (Căn cứ Điều 123 của Bộ luật Tố tụng Hình sự).

[5] Về xử lý vật chứng:

Mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm 07 hộp pháo hoa nổ đã niêm phong trong 01 thùng giấy, ký hiệu P bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy (Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự)

01 túi nilon trong suốt, kích thước (58x36)cm; 01 túi nilon màu đen, kích thước (57x34)cm; 01 túi nilon màu hồng, bên ngoài có dòng chữ “Tran Viet Ha”, kích thước (37x26)cm; 01 túi nilon màu đen, kích thước (50x31)cm; 01 túi nilon màu đen, kích thước (58x36)cm; 01 túi nilon màu vàng, kích thước (47x36)cm; 01 túi nilon màu vàng, bên ngoài có dòng chữ “Thai Tuan” kích thước (40x30)cm; 01 mũ vải màu tím (dạng mũ trùm, kín đầu), kích thước (41x45)cm (đều mở niêm phong BG1). Tiêu hủy 02 chiếc găng tay vải màu xám, chấm nâu; 01 khăn quàng cổ màu đỏ; 01 kính mắt màu hồng; 01 khăn vải màu xanh, trắng; 01 túi nilon màu đen, kích thước (44x31)cm; 01 túi nilon màu xanh, kích thước (33x55)cm; 01 túi nilon màu xanh, kích thước (34x56)cm; 01 túi nilon màu xanh, đã bị rách một phần không rõ hình dạng kích thước; 01 túi nilon màu vàng, kích thước (45x30)cm; 01 túi nilon màu đỏ, bên ngoài có dòng chữ “YẾN SÀO CAO CẤP KHÁNH HÒA”, kích thước (35x25)cm; 01 túi nilon màu trắng, kích thước (42x31)cm; 01 túi nilon màu trắng, kích thước (58x34)cm (đều mở niêm phong BG2) đều là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy (Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự).

Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đen bạc, biển số 74C1 – 101.00; số máy 5C61154907, số khung C6107Y154907 xe đã qua sử dụng và 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên chủ xe ông Hoàng Hữu D (kèm theo hồ sơ) là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, tuy nhiên, HĐXX thấy rằng: Ông Hoàng Hữu D và bà Trần Thị L đã đăng ký kết hôn vào ngày 09/6/2000. Đến ngày 10/6/2013, ông Hoàng Hữu D đã nhận chuyển nhượng chiếc xe mô tô và đã thực hiện đăng ký sang tên sang chủ xe ông Hoàng Hữu D vào ngày 10/6/2013 đây là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung của ông Hoàng Hữu DTrần Thị L (Điều 33 của Luật Hôn nhân & Gia đình). Ông Hoàng Hữu D đã chết vào ngày 19/8/2016, hàng thứ nhất của ông Hoàng Hữu D có 04 người gồm: bà Lê Thị M (là mẹ đẻ), Trần Thị L (vợ); chị Hoàng Thị Thu T2 và anh Hoàng Hữu P (là con đẻ) (BL 73). Thời điểm mở thừa kế là ngày 19/8/2016; di sản thừa kế của ông D là ½ trị giá của chiếc xe mô tô nói trên nên bà Lê Thị M (là mẹ đẻ), Trần Thị L (vợ); chị Hoàng Thị Thu T2 và anh Hoàng Hữu P (là con đẻ) mỗi người đều được hưởng một phần thừa kế như nhau tương ứng 1/8 giá trị chiếc xe; những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất của ông Hoàng Hữu D (ngoại trừ bị cáo Trần Thị L) đều không biết việc vào ngày 10/4/2024 bị cáo Trần Thị L sử dụng chiếc xe nói trên để vận chuyển pháo hoa nổ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi chính đáng của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Hoàng Hữu D cần giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông xử lý bán đấu giá tài sản, hoàn trả cho bà Lê Thị M, chị Hoàng Thị Thu T2 và anh Hoàng Hữu P mỗi người 1/8 trị giá của chiếc xe và tịch thu sung quỹ Nhà nước 5/8 trị giá chiếc xe (gồm ½ trị giá chiếc xe mô tô là tài sản của bị cáo Trần Thị L và 1/8 trị giá chiếc xe của Trần Thị L được hưởng theo thừa kế) (Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 651 của Bộ luật Dân sự).

Số tiền 300.000 đồng là tiền thu lợi bất chính do bị cáo Trần Thị L phạm tội mà có cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước (Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự).

[6] Về vấn đề khác: Đối với người phụ nữ đã thuê Trần Thị L vận chuyển số pháo trên, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra, xác minh nhưng không có kết quả, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo Trần Thị L phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Trần Thị L 07 (bảy) tháng tù nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2024 đến ngày 11/6/2024 là 62 ngày; bị cáo còn phải chấp hành hình phạt là 04 tháng 28 ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 651 của Bộ luật Dân sự:
  4. Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm 07 hộp pháo hoa nổ đã niêm phong trong 01 thùng giấy, ký hiệu P bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q (Vật chứng hiện Công an huyện Đ đang bảo quản);01 túi nilon trong suốt, kích thước (58x36)cm; 01 túi nilon màu đen, kích thước (57x34)cm; 01 túi nilon màu hồng, bên ngoài có dòng chữ “Tran Viet Ha”, kích thước (37x26)cm; 01 túi nilon màu đen, kích thước (50x31)cm; 01 túi nilon màu đen, kích thước (58x36)cm; 01 túi nilon màu vàng, kích thước (47x36)cm; 01 túi nilon màu vàng, bên ngoài có dòng chữ “Thai Tuan” kích thước (40x30)cm; 01 mũ vải màu tím (dạng mũ trùm, kín đầu), kích thước (41x45)cm (đều mở niêm phong BG1).02 chiếc găng tay vải màu xám, chấm nâu; 01 khăn quàng cổ màu đỏ; 01 kính mắt màu hồng; 01 khăn vải màu xanh, trắng; 01 túi nilon màu đen, kích thước (44x31)cm; 01 túi nilon màu xanh, kích thước (33x55)cm; 01 túi nilon màu xanh, kích thước (34x56)cm; 01 túi nilon màu xanh, đã bị rách một phần không rõ hình dạng kích thước; 01 túi nilon màu vàng, kích thước (45x30)cm; 01 túi nilon màu đỏ, bên ngoài có dòng chữ “YẾN SÀO CAO CẤP KHÁNH HÒA”, kích thước (35x25)cm; 01 túi nilon màu trắng, kích thước (42x31)cm; 01 túi nilon màu trắng, kích thước (58x34)cm (đều mở niêm phong BG2).

    - Giao 01 (một) chiếc xe xe môtô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đen bạc, biển số 74C1 – 101.00; số máy 5C61154907, số khung C6107Y154907 xe đã qua sử dụng cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị xử lý bán đấu giá tài sản để hoàn trả cho bà Lê Thị M, chị Hoàng Thị Thu T2 và anh Hoàng Hữu P mỗi người 1/8 trị giá của chiếc xe và tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 5/8 trị giá chiếc xe (gồm ½ trị giá chiếc xe mô tô là tài sản của bị cáo Trần Thị L và 1/8 trị giá chiếc xe của Trần Thị L được hưởng theo thừa kế).

    Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng là tiền thu lợi bất chính do bị cáo Trần Thị L phạm tội mà có.

    (Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị).

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Thị L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/8/2024); những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Thị Thu Hà

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị;
  • - Viện kiểm sát, Công an huyện Đakrông;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đakrông;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ về vận chuyển hàng cấm (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần thị L" Vận chuyển hàng cấm"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger