|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE Bản án số: 39/2024/HSST Ngày 12/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Khắc Hiệp
Ông Trần Hữu Chí
- Thư ký phiên tòa: bà Võ Thị Hồng Xuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 40/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Minh T, sinh năm 2001; nơi sinh: huyện T, tỉnh Bến Tre; giới tính: nam; Nơi thường trú: ấp B, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre; Nơi ở: ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo C; Nghề nghiệp: không có; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Phan Văn M; sinh năm 1978 (còn sống) và Lê Thị Ú; sinh năm 1973 (còn sống); Tiền án: không có; Tiền sự: có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 25/QĐ – XPVPHC ngày 19 tháng 3 năm 2021 và số 76/QĐ – XPVPHC ngày 24 tháng 6 năm 2021 của Trưởng Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre. Bị cáo bị cấm khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại tòa.
Người đại diện của bị cáo: Lê Thị Ú (T1), sinh năm 1973; Nơi thường trú: số A, ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre. Nơi ở: ấp T, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre (có mặt).
Người bào chữa: Trần Nhật Long H, sinh năm 1978 –Văn phòng L2; Địa chỉ: số G, ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Phạm Văn H1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: số I, ấp T, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
Trần Văn T2, sinh năm 1977; Nơi cư trú: số B, Tổ A, Khu phố A, Thị trấn M, huyện M, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
Người làm chứng:
Nguyễn Thị H2, sinh năm 1991; Nơi cư trú: số F, ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
Ngô Thị Thúy L, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
Nguyễn Quốc H3, sinh năm 2001; Nơi cư trú: số A, ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre (có mặt).
Người chứng kiến:
Dương Thành L1, sinh năm 1965; Nơi cư trú: số A, ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre (xin vắng mặt).
Trương Nhật D, sinh năm 1994; Nơi cư trú: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 40 phút ngày 04 tháng 5 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T kết hợp với Công an xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre tiến hành kiểm tra quán C1 ở ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre thì phát hiện trên mặt bàn nhựa bên trong quán ngay vị trí Phan Minh T đang ngồi có 01 túi nilon màu vàng loại có hai quai cầm, bên trong có 01 găng tay làm bằng vải thun màu xanh, sọc trắng có 01 gói nilon màu trắng được hàn kín bốn phía bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Qua làm việc, T thừa nhận gói nilon màu trắng được hàn kín bốn phía bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá của T, T mua nhằm mục đích để bản thân T sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bến Tre đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T đồng thời tiến hành thu giữ và niêm phong số ma tuý mà T đã cất giấu.
Vật chứng, đồ vật, tài liệu bị thu giữ gồm:
- - 01 gói nilon được hàn kín bốn phía bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý (thu bên trong găng tay làm bằng vải thun, màu xanh, sọc trắng loại có hở ở năm đầu ngón tay được niêm phong trong phong bì ký hiệu “A”).
- - 01 túi nilon màu vàng loại có hai quai cầm;
- - 02 găng tay làm bằng vải thun, màu xanh, sọc trắng loại có hở ở năm đầu ngón tay;
- - 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn màu vàng, bên trong có 10 điếu thuốc lá đầu lọc chưa qua sử dụng;
- - 01 sổ khám bệnh tại Trung tâm y tế huyện T không ghi họ tên, bên trong có toa thuốc ghi ngày 13 tháng 4 năm 2022;
- - 02 hộp quẹt ga (bật lửa) màu trắng.
Tại Kết luận giám định số 183/2022/KL-KTHS ngày 07 tháng 5 năm 2022 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nilon được niêm phong trong phong bì ký hi ệu “A” gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine; có khối lượng 4,0144 gam. Hoàn lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bến Tre mẫu vật ký hiệu “A” sau giám định đã được niêm phong có khối lượng 3,8005 gam.
Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 583/KL-VPYTW ngày 16 tháng 9 năm 2022 của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương B, tỉnh Đồng Nai kết luận: về y học: trước, trong và sau khi gây án, Phan Minh T bị rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng các chất kích thích (F15.71 - ICD.10). Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần sau thời gian điều trị bắt buộc số 992/KLBB-VPYTW ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Viện Pháp y Tâm thần trung ương B kết luận: Phan Minh T bị bệnh rối loạn sự thích ứng với phản ứng hỗn hợp lo âu trầm cảm/Rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng các chất kích thích (F34.22/F15.71-ICD.10). Hiện tại bệnh đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Phan Minh T có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 41CT-VKSTP-HS ngày 07/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú để xét xử đối với bị cáo Phan Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015
Tại phiên tòa bị cáo Phan Minh T trình bày:
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị ép cung nhục hình, lời khai của bị cáo là tự nguyện. Bị cáo mua ma túy và sử dụng ma túy như cáo trạng đã nêu.
Người đại diện bị cáo bà Lê Thị Ú trình bày: Trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa Bị cáo trình bày tự nguyên không có ép buộc.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án, bảo lưu toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo bị cáo Phan Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Phạm Minh T3 từ 02 năm đến 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy lượng ma túy sau giám định có khối lượng 3,8005 gam được đựng trong 01 gói nilon hàn kín bốn phía bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, sau khi giám định là ma túy. Mẫu vật sau giám định được niêm phong trong phong bì kí hiệu 183/2022 có chữ ký và ghi tên của Nguyễn Ngọc M1, Trần Quốc D1 và hình dấu tròn màu đỏ của phòng K Công an tỉnh B; 01 túi nilon màu vàng loại có hai quai cầm; 02 găng tay làm bằng vải thun, màu xanh, sọc trắng loại có hở ở năm đầu ngón tay; 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn màu vàng, bên trong có 10 điếu thuốc lá đầu lọc chưa qua sử dụng; 01 sổ khám bệnh tại Trung tâm y tế huyện T không ghi họ tên, bên trong có toa thuốc ghi ngày 13 tháng 4 năm 2022; 02 hộp quẹt ga (bật lửa) màu trắng.
Luật sư bào chữa cho bị cáo ông Trần Nhật Long H trình bày: Về tội danh, điều luật Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Phan Minh T tôi thống nhất. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Phan Minh T khi thực hiện hành vi phạm tội đang bị bệnh rối loạn sự thích ứng với phản ứng hỗn hợp lo âu trầm cảm/Rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng các chất kích thích. Trong quá trình khởi tố và truy tố bị cáo thật thà khai báo tỏa ra ăn năn hối cải nên đề nghị xem xét hình phạt áp dụng đối với bị cáo Phan Minh T thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo Phan Minh T: Bị cáo biết sai đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện theo pháp luật, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện điều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Phan Minh T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản thực nghiệm điều tra, và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 04 tháng 5 năm 2022, tại quán C1 ở ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre, Phan Minh T có hành vi tàng trữ 4,0144 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng. Đến 20 giờ 40 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bến Tre kết hợp với Công an xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma túy nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Theo Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c. Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Hành vi của bị cáo Phan Minh T đã phạm vào tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS.
[4] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về lượng hình: Bị cáo Phan Minh T nhận biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vì thỏa mãn cơn nghiện nên đã mua ma túy để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, vi phạm chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma túy, mà còn xâm phạm đến tình hình trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến tính mạng sức khỏe của con người, là một trong những nguyên nhân góp phần làm gia tăng tội phạm trong tình hình hiện nay. Mọi hành vi vi phạm trong lĩnh vực này cần phải được đưa ra xử lý nghiêm trước pháp luật để răn đe, giáo dục, phòng ngửa chung cho toàn xã hội. Bị cáo T có nhân thân xấu, có hai tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Với tính chất mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, để phục vụ chính trị tại địa phương cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc là cách ly các bị cáo với hoạt động bình thường bên ngoài xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Đối với lượng ma túy sau giám định có khối lượng 3,8005 gam được đựng trong 01 gói nilon hàn kín bốn phía bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, sau khi giám định là ma túy. Mẫu vật sau giám định được niêm phong trong phong bì kí hiệu 183/2022 có chữ ký và ghi tên của Nguyễn Ngọc M1, Trần Quốc D1 và hình dấu tròn màu đỏ của phòng K Công an tỉnh B; 01 túi nilon màu vàng loại có hai quai cầm; 02 găng tay làm bằng vải thun, màu xanh, sọc trắng loại có hở ở năm đầu ngón tay; 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn màu vàng, bên trong có 10 điếu thuốc lá đầu lọc chưa qua sử dụng; 01 sổ khám bệnh tại Trung tâm y tế huyện T không ghi họ tên, bên trong có toa thuốc ghi ngày 13 tháng 4 năm 2022; 02 hộp quẹt ga (bật lửa) màu trắng. Là lượng ma túy bị cáo phạm tội và đồ vật qua sử dụng và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Trong quá trình điều tra Phan Minh T khai số ma túy trên T mua của Trần Văn T2 (sinh ngày 15/5/1977; nơi cư trú: số B, tổ A, Khu phố D, thị trấn M, huyện M, tỉnh Bến Tre). Tuy nhiên qua làm việc và đối chất, Trần Văn T2 không thừa nhận có bán ma tuý cho T. Ngoài lời khai của T, không còn căn cứ nào khác, do đó không đủ căn cứ xác định Trần Văn T2 đã bán trái phép chất ma túy cho T.
[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 bị cáo Phan Minh T phải nộp án phí sơ thẩm là 200.000 đồng.
[8] Luận tội và tranh luận của Kiểm sát viên đã cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để đề nghị mức hình phạt, đề nghị xử lý vật chứng là thỏa đáng và phù hợp nên được chấp nhận toàn bộ.
[9] Lời bào chữa cho bị cáo của Luật sư Trần Nhật Long H : Xét thấy tình tiếc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo đề nghị của luật sư Hội đồng xét xử đã áp dụng và mức hình phạt của Viện kiểm sát là phù hợp nên luật sư yêu cầu áp dụng mức hình phạt cho bị cáo thấp hơi đề nghị của Viện kiểm sát là chưa phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Phan Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 Xử phạt bị cáo Phan Minh T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng và các tài sản khác: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy sau giám định có khối lượng 3,8005 gam được đựng trong 01 gói nilon hàn kín bốn phía bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, sau khi giám định là ma túy. Mẫu vật sau giám định được niêm phong trong phong bì kí hiệu 183/2022 có chữ ký và ghi tên của Nguyễn Ngọc M1, Trần Quốc D1 và hình dấu tròn màu đỏ của phòng K Công an tỉnh B; 01 túi nilon màu vàng loại có hai quai cầm; 02 găng tay làm bằng vải thun, màu xanh, sọc trắng loại có hở ở năm đầu ngón tay; 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn màu vàng, bên trong có 10 điếu thuốc lá đầu lọc chưa qua sử dụng; 01 sổ khám bệnh tại Trung tâm y tế huyện T không ghi họ tên, bên trong có toa thuốc ghi ngày 13 tháng 4 năm 2022; 02 hộp quẹt ga (bật lửa) màu trắng.
(Theo quyết định chuyển vật chứng số 34/QĐ-VKS ngày 07/6/2024)
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Phan Minh T phải nộp là 200.000 đồng.
4. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa án tống đạc hợp lệ để yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Hồng Thúy |
Bản án số 39/2024/HSST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 39/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Minh Tâm phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
