Hệ thống pháp luật

1

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

NAM

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày 02-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Mạnh Hà.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trương Văn Luân
  2. Bà Vũ Thị Khánh Hòa

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đình Trường là Thư ký TAND huyện Hưng Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: ông Lê Quang Hưởng – Kiểm sát viên.

Ngày 02-5-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh V, sinh năm 1995 tại huyện H tỉnh Thái Bình.

Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Bùi Thị K; vợ: Phạm Thị T1; nhân thân: theo Quyết định số 09/QĐ-TA ngày 03-6-2020 của Tòa án nhân dân (viết tắt TAND) huyện H, tỉnh Thái Bình, bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 12 tháng (chấp hành xong ngày 21-8-2021); tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16-02-2024, đến ngày 22-02-2024 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người làm chứng:

  1. Ông Phạm Ngọc C, sinh năm 1972
  2. Nơi cư trú: thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

  3. Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1991
  4. Nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa)

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 9 giờ 50 phút ngày 16-2-2024, tại khu vực đường Đ, thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện H, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang bị cáo Nguyễn Minh V có hành vi cất giấu tại lòng bàn tay trái 01 gói giấy màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, bị cáo V khai nhận là ma túy, loại heroine tàng trữ để sử dụng. Tổ công tác Công an huyện H, tỉnh Thái Bình đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong 01 gói giấy màu vàng nêu trên trước sự chứng kiến của những người làm chứng. Khám xét chỗ ở của Nguyễn Minh V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không quản lý đồ vật, tài sản gì.

Tại Bản kết luận giám định số 221/KL - KTHS ngày 19-02-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận mẫu gửi giám định quản lý của Nguyễn Minh V là ma túy, loại Hêrôin (H) có khối lượng là 0,1069 gam (Không phẩy một nghìn không trăm sáu mươi chín gam). Heroine STT: 09, Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25-8-2022 của Chính phủ.

Bản cáo trạng số 39/CT-VKSHH ngày 30-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Minh V ra trước Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (viết tắt BLHS).

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh V khai nhận: Bị cáo mắc nghiện ma túy từ năm 2020. Vào khoảng 09 giờ giờ 00 phút ngày 16-02-2024, bị cáo đi từ nhà ra đường sau đó đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết sang huyện Đ, mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến ngã tư T bị cáo xuống xe đi bộ một mình thì gặp một người đàn ông khoảng 20 tuổi, không biết tên, địa chỉ ở đâu, qua nói chuyện bị cáo biết người đàn ông đó có bán ma túy nên đã đặt vấn đề mua ma túy. Bị cáo đưa cho người đàn ông 200.000 đồng, người đàn ông đi đâu đó khoảng 10 phút thì quay lại đưa cho bị cáo một gói giấy màu vàng, bị cáo biết bên trong là ma túy nên cầm ở lòng bàn tay trái rồi đi nhờ xe của một người qua đường về huyện H tìm nơi sử dụng ma túy. Bị cáo về đến đoạn đường ĐT 452 thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện H thì bị cáo xuống xe đi bộ một mình tìm hiệu thuốc mua xilanh để sử dụng ma túy thì bị lực lượng công an đến và yêu cầu kiểm tra, bị cáo đã tự nguyên giao nộp gói ma túy đang cầm ở bàn tay trái cho lực lượng công an.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 50 của BLHS, phạt bị cáo V từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16-02-2024; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 106 của BLTTHS và Điều 47 của BLHS, tịch thu để tiêu hủy số ma túy quản lý của bị cáo V trong phong bì niêm phong số 221/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh T.

3

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của BLTTHS.

[3] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Lời khai của bị cáo V tại phiên tòa phù hợp với khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và còn phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H lập hồi 10 giờ 10 phút ngày 16-02-2024 tại trụ sở Công an xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (bút lục số 29 đến 30); Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập hồi 11 giờ 40 phút ngày 16-02-2024 tại trụ sở Công an xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (bút lục số 31); Bản kết luận giám định số 211/KL - KTHS ngày 19-02-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T (Bút lục số 41); Biên bản ghi lời khai của những người làm chứng là ông Phạm Ngọc C và anh Nguyễn Văn N (bút lục từ số 77 đến số H).

[4] Như vậy có đủ cơ sở kết luận vào 9 giờ 50 phút ngày 16-02-2024, tại đoạn đường ĐT452, thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Minh V đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1069 gam ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

4

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”

[5] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo V thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe của người sử dụng, làm suy kiệt kinh tế gia đình của người sử dụng, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của rất nhiều loại tội phạm khác gây mất trật tự xã hội, Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán...trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên tại phiên toà cũng như tại giai đoạn điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử cũng xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

[6] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập ổn định; bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích lợi nhuận, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về nguồn gốc ma túy: bị cáo V khai số ma túy bị cáo tàng trữ là bị cáo mua của một người đàn khoảng 20 tuổi, không biết tên, địa chỉ ở đâu, mua tại ngã tư T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình đã tiến hành điều tra, xác minh, ngoài lời khai của bị cáo V ra không còn tài liệu, chứng cứ nào khác xác định người đã bán ma túy cho bị cáo V. Do không có căn cứ để xác định con người cụ thể bán ma túy cho bị cáo theo như lời khai của bị cáo nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này là phù hợp.

[8] Về vật chứng của vụ án: số ma túy Cơ quan điều tra quản lý của bị cáo Nguyễn Minh V, sau khi được giám định, số còn lại được niêm phong trong phong bì số 221/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh T, xét thấy đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy.

[9] Về án phí: bị cáo V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

5

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 16-02-2024.
  2. Áp dụng Điều 106 của BLTTHS và Điều 47 của BLHS.

    Tịch thu để tiêu hủy toàn bộ số ma túy quản lý của bị cáo Nguyễn Minh V, sau khi giám định số còn lại được niêm phong trong phong bì số 221/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh T.

    (Vật chứng của vụ án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02-4-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà).

  3. Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Minh V phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo Nguyễn Minh V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

* Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thài Bình;
  • - VKSND huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS Hưng Hà;
  • - Công an huyện Hưng Hà;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Nguyễn Mạnh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Minh V phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger