|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HS-ST
Ngày: 27/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tùng
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Ngọc Minh – Giáo viên, Giám đốc Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp, Giáo dục thường xuyên huyện Ninh Phước.
- Bà Lê Thị Hường – Cán bộ hưu trí nguyên là Giáo viên.
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Trần Bảo Trân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên toà:
ông Lê Quốc Trung - Kiểm sát viên (Quyết định thay đổi Kiểm sát viên thực hành quyền công tố số 01/QĐ-VKSNP ngày 27/02/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước).
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2024/HSST ngày 16 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
-
Lưu Ngọc A - Giới tính: Nam - Sinh ngày: 17/5/2005 tại Ninh Thuận; Nơi ĐKHKTT: thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Bà la môn; Quốc tịch: Việt Nam; cha: Lưu Ngọc Q; mẹ: Lâm Thị G; vợ, con: chưa có.
- - Tiền án: Không.
- - Tiền sự:
- Ngày 26/4/2023 bị Công an huyện N ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản số tiền 1.250.000 đồng;
- Ngày 05/5/2023, Lưu Ngọc A bị Công an xã P, huyện N xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý theo Quyết định số 01002/QĐ-XPHC.
- Bị cáo tại ngoại – Vắng mặt tại phiên tòa vì lý do sức khỏe – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
-
Đàng Quang H, Giới tính: Nam - Sinh ngày: 18/9/2008 tại Ninh Thuận; Nơi ĐKHKTT: thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Bà la môn; Quốc tịch: Việt Nam; cha: Đàng Quang Đ (chết); mẹ: Hán Thị K; vợ, con: chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa
-
Kiều Thanh R; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 01/01/2004 tại Ninh Thuận; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Bà la môn; Quốc tịch: Việt Nam cha: Kiều Thanh (chết); mẹ: Bá Thị Đ1 (chết); vợ, con: chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Ninh Thuận – Có mặt tại phiên tòa.
-
Bá Đại H1; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 02/8/2005 tại Ninh Thuận; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Bà la môn; Quốc tịch: Việt Nam; cha: Bá Văn H2; mẹ: Đàng Thị Mỹ Q1; vợ con: chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N – Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Đàng Quang H: bà Đinh Thị N, Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N – Có mặt.
Đại diện chính quyền địa phương nơi bị cáo Đàng Quang H3 cư trú: ông Quảng Trung H4 – Tư pháp xã P – Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông (bà):
- Võ Hoài Phi B – Sinh năm: 2002; địa chỉ: P, P, N, Ninh Thuận – Vắng mặt không có lý do.
- Kiều Oanh – Sinh năm: 2002; địa chỉ: H, P, N, Ninh Thuận – Có mặt.
- Huỳnh Trọng T – Sinh năm: 1979; địa chỉ: khu phố H, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 26/8/2023 Đội điều tra tổng hợp Công an huyện N tuần tra phòng chống tội phạm trên địa bàn xã P huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Khi đi đến trước quán C nằm trên đường G thuộc thôn C, xã P, huyện N thấy Lưu Ngọc A điều khiển xe mô tô 85D1- 722.68 nhãn hiệu Raider chở Đàng Quang H có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác đã tiến hành kiểm tra. Kết quả phát hiện Anh đang cất giấu 01 gói ma tuý ở giữa thắt lưng và cạp quần đang mặc đến bán cho Võ Hoàng Phi B1 nhưng chưa kịp giao ma tuý thì bị bắt quả tang. Tổ công tác đã tạm giữ 01 gói nylon hàn kín chứa chất rắn màu trắng được gói trong một phần vỏ bao nylon hàn kín màu đen (ký hiệu M1) và 01 xe mô tô 85D1- 722.68 nhãn hiệu Raider và đưa A và H, B1 về trụ sở làm việc. Khám xét chỗ ở của Lưu Ngọc A và Đàng Quang H thu giữ tại nhà Lưu Ngọc A gồm 01 nắp nhựa màu đỏ đục 2 lỗ, 01 lỗ gắn nỏ thuỷ tinh bên trong có chất bẩn màu nâu đen (ký hiệu M2), 01 lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng.
Quá trình điều tra chứng minh được như sau:
Kiều Thanh R, Lưu Ngọc A, Đàng Quang H, Bá Đại H1 có mối quan hệ ban bè thân thiết với nhau, đồng thời là những người nghiện ma tuý. Trong thời gian từ ngày 23/8/2023 đến ngày 26/8/2023, Rừng mua ma tuý của một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) ở Quận G, thành phố Hồ Chí Minh về bán lại cho Lưu Ngọc A, Đàng Quang H, Bá Đại H1, sau đó A, H, H1 đã bán lại cho Võ Hoàng Phi B1 cụ thể như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 23/8/2023, H1 liên hệ mua của R 01 gói ma tuý với giá 200.000 đồng thì R đồng ý và hẹn H1 đến ngôi nhà hoang tại thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận để giao ma tuý. Sau đó H1 đến chỗ hẹn nhận ma tuý và trả cho R số tiền 100.000 đồng và nợ lại 100.000 đồng.
Khoảng 15 giờ ngày 25/8/2023 B1 sử dụng tài khoản “Kim P” liên hệ đến tài khoản Facebook “B.Đại Hoá” của Bá Đại H1 để hỏi mua ma tuý nhưng H1 không có nên nói B1 chờ để H1 hỏi bạn. Sau đó H1 sử dụng tài khoản facebook của mình lên hệ đến tài khoản “Ben Anh” của Lưu Ngọc A thì biết Anh có bán ma tuý nên H1 giới thiệu B1 cho Anh biết để liên hệ mua ma tuý. Sau đó, B1 liên hệ qua facebook của Anh mua ma tuý với giá 300.000 đồng thì A đồng ý và hẹn B1 đến cổng thôn C, xã P, huyện N để thực hiện việc mua bán trái phép chất ma tuý, đồng thời Anh rủ H1 đến đây uống nước. Sau đó, Anh liên hệ với H facebook “Hung Quang” nói cho H biết việc Anh được H1 giới thiệu bán ma tuý cho B1, đồng thời nói H chở H1 đến chở A đi uống nước thì H đồng ý. Một lát sau, H1 điều khiển xe mô tô 85D1-68858 của ông Bá Văn H2 (là cha của H1) đến chở H và A đi uống nước. Tại đây, H nghe H1 và A nói chuyện với nhau việc chờ B1 đến để bán ma tuý. Sau đó, A, H, H1 đi đến cổng thôn C, xã P, huyện N thì gặp B1 đang đi đến, B1 đưa cho H số tiền 300.000 đồng để mua ma tuý thì H nhận và đi một mình đến nhà R để mua ma tuý nhưng không gặp nên quay về nhà A để chở A quay lại nhà R mua ma tuý. Trên đường đi thì A nói với H dùng 260.000 đồng để mua ma tuý còn 40.000 đồng để giữ lại tiêu xài chung thì H đồng ý. Sau đó, H chở A đến nhà R thì Anh mua 01 gói ma tuý với giá 260.000 đồng mang về khu vực cổng thôn C, xã P, huyện N bán cho B1, còn lại 40.000 đồng Anh trả tiền cà phê.
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 26/8/2023, B1 liên hệ qua facebook của Anh hỏi mua ma tuý với giá 800.000 đồng thì A đồng ý và hẹn đến thôn C, xã P, huyện N thì A nhắn tin rủ H đi uống cà phê đồng ý nên lấy xe mô tô 85D1-722.68 của anh Lê Văn B2, sinh năm: 1981, trú tại: thôn C, xã P, Huyện N chở A đến quán C. Khi đến nơi gặp B1 đang ngồi trong quán một mình nên A và H ngồi chung bàn với B1. Lúc này B1 tiếp tục hỏi mua ma tuý với giá 800.000 đồng chưa có tiền trả mà đang chờ bạn đến để trả thì A đồng ý. Do không có sẵn ma tuý và B1 chưa trả tiền nên A nói H chở Anh mang điện thoại Samsung galaxy A11 của Anh đi thế chấp lấy tiền đến nhà R mua ma tuý thì H đồng ý. Sau đó, H chở A đến tiệm điện thoại Cầu Bảo do anh Huỳnh Trọng T, sinh năm: 1979, trú tại: Khu phố A, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận làm chủ sở hữu thế chấp điện thoại với giá 700.000 đồng rồi H chở A đến nhà R mua 01 gói ma tuý với giá 800.000 đồng nhưng Anh trả cho R 600.000 đồng, nợ lại 200.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý H chở Anh quay lại quán C để giao ma tuý cho B1 nhưng chưa kịp giao thì bị bắt quả tang.
Tại Bản kết luận giám định số 189/KL-KTHS ngày 01/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:
Chất rắn màu trắng (ký hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng gửi mẫu giám định là: 0,3560g.
Mẫu M2: Khối lượng quá ít không đủ để tiến hành giám định.
H5 lại đối tượng sau giám định mẫu M1: 0,2662g cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định và 01 nắp nhựa màu đỏ đục 2 lỗ, 01 lỗ gắn nỏ thuỷ tinh bên trong có chất bẩn màu nâu đen (ký hiệu M2), 01 lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng.
Cáo trạng số 27/CT-VKS-HS ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận truy tố Lưu Ngọc A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, e khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố Đàng Quang H, Kiều Thanh R về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố Bá Đại H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước giữ nguyên nội dung truy tố tại bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lưu Ngọc A, Kiều Thanh R, Bá Đại H1 và Đàng Quang H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: điểm b, e khoản 2 Điều 251; điểm b, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo Lưu Ngọc A từ 08 đến 09 năm tù;
- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo Kiều Thanh R từ 07 đến 08 năm tù;
- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b, r khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo Đàng Quang H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm b, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với Bá Đại H1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, số tiền dùng vào việc phạm tội, số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội mà có.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.
Bị cáo Bá Đại H1, Kiều Thành R1 không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa, nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo Đàng Quang H thống nhất với ý kiến của Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo H. Về phần hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xem xét mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát vì bị cáo H là người dưới 16 tuổi phạm tội. Bị cáo, Đại diện hợp pháp của bị cáo thống nhất ý kiến của người bào chữa, không bổ sung thêm. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại hiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1]. Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2]. Về thủ tục tố tụng: bị cáo Lưu Ngọc A vì lý do sức khỏe (đang điều trị tại bệnh viện) và có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét việc vắng mặt của bị cáo không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo và các bị cáo khác. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo.
- [3]. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án và được Hội đồng xét xử thẩm tra, đánh giá tại phiên tòa nên có đủ cơ sở xác định:
Kiều Thanh Rừng mua ma túy của một người không rõ nhân thân lai lịch sau đó bán lại cho Lưu Ngọc A, Đàng Quang H, Bá Đại H1 cụ thể như sau: Ngày 23/8/2023 R1 bán cho H1 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng; Ngày 25/8/2023 R1 bán cho H và Anh một gói ma túy với giá 260.000 đồng; Ngày 26/8/2023 R1 bán cho H và Anh một gói ma túy với giá 800.000 đồng.
Lưu Ngọc A và Đàng Quang H sau khi mua ma túy của R1 tiếp tục bán lại cho B1 cụ thể như sau: Ngày 25/8/2023 sau khi được Bá Đại H1 giới thiệu, H và A bán cho B1 một gói ma túy với giá là 400.000 đồng; Ngày 26/8/2023 H và A tiếp tục bán cho B1 một gói ma túy với giá là 800.000 đồng trong lúc đi giao ma túy thì bị bắt quả tang.
Tại Bản kết luận giám định số 189/KL-KTHS ngày 01/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:Chất rắn màu trắng (ký hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng gửi mẫu giám định là: 0,3560g.
Điều 251. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Tội mua bán trái phép chất ma túy
- “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
- 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- b) Phạm tội 02 lần trở lên;
- e) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội”
Căn cứ quy định trên thì Kiều Thanh R có 03 lần bán trái phép chất ma túy nên Viện kiểm sát truy tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ;
Lưu Ngọc A có hai lần bán trái phép chất ma túy đồng thời sử dụng Đàng Quang H là người dưới 16 tuổi bán ma túy nên Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, e khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ;
Đàng Quang H có 02 lần giúp sức cho Lưu Ngọc A bán ma túy nên Viện kiểm sát truy tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ;
Đối với Bá Đại H1 biết Lưu Ngọc A bán trái phép chất ma túy nên đã môi giới và đi cùng với A bán ma túy cho B1 01 lần vào ngày 25/8/2023 nên Viện kiểm sát truy tố về Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ;
- [4]. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về ma túy đồng thời tiềm ẩn nguy cơ gây ra các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác.
Hành vi của Kiều Thanh R độc lập trong vụ án nên phải chịu trách nhiệm riêng đối với 03 lần bán ma túy; Hành vi của Lưu Ngọc A, Đàng Quang H, Bá Đại H1 có vai trò đồng phạm trong đó, A là người có vai trò chính đồng thời là người rủ rê H chưa đủ 16 tuổi tham gia nên phải chịu trách nhiệm chính trong đồng phạm; Đàng Quang H, Bá Đại H1 tham gia với vai trò là người giúp sức trong đó vai trò của H tích cực hơn Hóa nên khi quyết định hình phạt được xem xét cho phù hợp đối với các đồng phạm.
Xét các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, rất nghiêm trọng nên cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Đối với Đạt Quang H6 khi phạm tội 15 tuổi 9 ngày nên áp dụng quy định tại Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự để xem xét mức hình phạt phù hợp.
Đối với bị cáo Lưu Ngọc A bị tạm giữ từ ngày 26/8/2023 đến ngày 31/8/2023 trả tự do. Ngày 12/8/2024 bị bắt theo lệnh truy nã, ngày 13/8/2024 bị tạm giam đến ngày 23/8/2024 thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh (lý do sức khỏe phải nhập viện). Căn cứ Điều 38 của Bộ luật Hình sự, thời hạn tù sẽ được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù.
- [5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Quá trình điều tra, truy tố Kiều Thanh R, Lưu Ngọc A và Đàng Quang H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và tự thú hành vi phạm tội trước đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đối với Bá Đại H1 có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b khoản 1 và đầu thú quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo được Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình.
- [6]. Biện pháp tư pháp:
Xử lý vật chứng: Khối lượng ma tuý hoàn lại sau giám định mẫu M1: 0,2662g cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định và 01 nắp nhựa màu đỏ đục 2 lỗ, 01 lỗ gắn nỏ thuỷ tinh bên trong có chất bẩn màu nâu đen (ký hiệu M2), 01 lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng theo Kết luận giám định số 189/KL-KTHS ngày 01/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N được bỏ vào phong bì dán kín, đóng dấu tròn đỏ của phòng K1 Công an tỉnh N, có chữ ký xác nhận của Lê Ngọc T1, Nguyễn Nghi A1, Nguyễn Minh H7, Nguyễn Lê Đức N1, Nguyễn Văn N2. Đây là ma tuý còn lại sau giám định và dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý của Lưu Ngọc A nên tịch thu tiêu huỷ. Đối với mẫu M2 đã sử dụng hết cho Công tác giám định nên không xem xét đến. Đối với chiếc điện thoại S A11, màu xanh số Imei 1: 356938142401455, số Imei 2: 356489842401452 Lưu Ngọc A dùng để liên hệ mua bán trái phép chất ma tuý nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về số tiền thu lợi bất chính: Đối với Lưu Ngọc A và Đàng Quang H đã bán cho Võ Hoàng Phi B1 02 lần/ 02 gói số tiền 1.100.000 đồng nhưng A đã hưởng lợi bất chính số tiền 40.000 đồng và nợ 200.000 đồng mua ma tuý của R chưa trả cho R. Tổng cộng là 240.000 đồng, xét bị cáo Lưu Ngọc A là người trực tiếp sử dụng tiền mua ma túy, trực tiếp sử dụng số tiền được hưởng lợi nên buộc Lưu Ngọc A phải nộp lại số tiền này tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với Kiều Thanh R đã bán ma tuý 03 lần/ 03 gói/ 1.260.000 đồng nhưng R đã hưởng lợi bất chính số tiền 960.000 đồng buộc Kiều Thanh R nộp lại sung quỹ Nhà nước. Tiếp tục tạm giữ số tiền 960.000 đồng chị Kiều O (em Kiều Thanh R) nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước để đảm bảo việc thi hành án.
Đối với Bá Đại H1 đang nợ số tiền 100.000 đồng mua ma tuý của Kiều Thanh R buộc Bá Đại H1 nộp sung quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền 700.000 đồng Lưu Ngọc A thế chấp điện thoại Samsung galaxy A11 cho anh Huỳnh Trọng T và dùng tiền vào mục đích mua ma tuý nên buộc Lưu Ngọc A phải hoàn trả số tiền 700.000 đồng cho anh T.
- [7]. Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Riêng bị cáo Đàng Quang H là người dưới 16 tuôi nên được miễn án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Bị cáo Lưu Ngọc A, Kiều Thanh R, Đàng Quang H và Bá Đại H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: điểm b, e khoản 2 Điều 251; điểm b, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Lưu Ngọc A từ: 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/8/2023 đến ngày 31/8/2023 và từ ngày 12/8/2024 đến ngày 23/8/2024.
- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Kiều Thanh R từ: 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (11/9/2023);
- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b, r khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Đàng Quang H: 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm b, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Bá Đại H1 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (02/01/2024). Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- * Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma tuý hoàn lại sau giám định mẫu M1: 0,2662g cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 nắp nhựa màu đỏ đục 2 lỗ, 01 lỗ gắn nỏ thuỷ tinh, một lỗ gắn một ống hút màu trắng hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 189/KL-KTHS ngày 01/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại Samsung Galaxy A11, màu xanh số Imei 1: 356938142401455, số I 2: 356489842401452.
- Vật chứng đang được bảo quản tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 10/5/2024.
- * Về số tiền thu lợi bất chính:
- - Buộc bị cáo Lưu Ngọc A phải nộp lại số tiền 240.000 đồng tịch thu sung quỹ nhà nước.
- - Buộc bị cáo Thanh R nộp lại số tiền 960.000 đồng tịch thu sung quỹ Nhà nước. Tiếp tục tạm giữ số tiền 960.000 đồng chị Kiều O (em Kiều Thanh R) nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước để đảm bảo việc thi hành án.
- - Buộc bị cáo Bá Đại H1 phải nộp lại số tiền 100.000 đồng, tịch thu nộp sung quỹ Nhà nước.
- - Buộc bị cáo Lưu Ngọc A phải trả lại số tiền 700.000 đồng cho anh Huỳnh Trọng T.
- * Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- - Buộc bị cáo Lưu Ngọc A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Buộc bị cáo Kiều Thanh R phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Buộc bị cáo Bá Đại H1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đàng Quang H.
Quyền kháng cáo: Bị cáo Kiều Thanh R, Bá Đại H1, Đàng Quang H, đại diện hợp pháp của bị cáo Đàng Quang H, Người bào chữa cho bị cáo Đàng Quang H có mặt tại phiên tòa. Quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/8/2024). Bị cáo Lưu Ngọc A, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Thị Hường Phạm Ngọc Minh |
Trần Văn Tùng |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Ngọc A và đồng phạm phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 bLHS
