|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày 26 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Việt Thắng
Ông Huỳnh Văn Năm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Ngân. Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dần - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Yến N, sinh ngày 06/9/1996, tại Cà Mau. Nơi cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phương Đ và bà Trịnh Phương K; chồng không nhớ rõ họ tên; con 01 người, sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 05/12/2023 sau đó bị khởi tố và tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ, ngày 05/12/2023, Nguyễn Yến N điện thoại cho người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch hỏi mua 3.000.000 đồng ma tuý. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, N đi xe buýt từ Tắc T về Sông Đ. Đến đoạn đường thuộc ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. N xuống xe liên hệ với người bán ma tuý như đã hẹn trước đó, N đứng đợi tại cống R, có một người đàn ông điều khiển xe máy đến gặp N, giao cho N 01 bịch nilon có viền màu đỏ và 01 bịch nilon có viền màu trắng, bên trong đều có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng. N nhận 02 bịch nilon trên cất vào túi áo khoác bên trái, đưa cho người đàn ông 3.000.000 đồng, người này điều khiển xe chạy đi. N đi một đoạn thì thuê xe ôm chạy về hướng thị trấn S. Đến khu vực khóm A, thị trấn S, N kêu xe ôm dừng lại. Lúc này, N bị Đ1 đặt nhiệm phòng chống tội phạm ma tuý số 4 – Bộ tư lệnh cảnh sát biển phối hợp Đội cảnh sát về Hình sự - Kinh Tế - Ma tuý Công an huyện T và Công an thị trấn S tiến hành không chế, kiểm tra và phát hiện N đang cất giấu 02 bịch nilon chứa ma tuý trong túi áo khoác phía trước, bên trái N đang mặc. Tiến hành lập biên bản niêm phong gởi đi giám định.
Tại kết luận giám định số 582/KL-KTHS ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh C. Kết luận:
Tinh thể rắn màu trắng bên trong 02 bọc nilon màu trắng, được bóp kín miệng, niêm phong trong phong bì thư hình chữ nhật gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 3,4286 gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ: 02 bịch nilon màu trắng được bóp kín miệng, bên trong mỗi bọc nilon đều có tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO đã qua sử dụng, có gắn sim; 01 áo khoác dài tay màu xanh nhạt.
Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau truy tố Nguyễn Yến N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Yến N và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Yến N từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 582/KL-KTHS ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh C, được niêm phong; 01 điện thoại di động hiệu OPPO đã qua sử dụng, có gắn sim số 0378.147.332; 01 áo khoác dài tay màu xanh nhạt.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội theo nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo không tranh luận với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.
Trong ngày 05/12/2023, Nguyễn Yến N điện thoại cho người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch hỏi mua 3.000.000 đồng ma tuý. N hẹn gặp người bán ma tuý, người này giao cho N 01 bịch nilon có viền màu đỏ và 01 bịch nilon có viền màu trắng, bên trong đều có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng. N thuê ôm chạy về hướng thị trấn S, đến khu vực khóm A, thị trấn S. N bị Đ1 đặt nhiệm phòng chống tội phạm ma tuý số 4 – Bộ tư lệnh cảnh sát biển phối hợp Đội cảnh sát về Hình sự - Kinh Tế - Ma tuý Công an huyện T và Công an thị trấn S tiến hành không chế, kiểm tra và phát hiện N đang cất giấu 02 bịch nilon chứa ma tuý trong túi áo khoác phía trước, bên trái N đang mặc. Tổng khối lượng theo giám định là 3,4286 gam chất Methamphetamine.
Bị cáo Nguyễn Yến N đã có hành vi cất giữ chất ma túy trái phép nhằm để sử dụng là đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét áp dụng hình phạt đối với bị cáo và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Yến N từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm đảm bảo răn đe, giáo dục bị cáo nhưng vẫn đảm bảo giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 582/KL-KTHS ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh C, được niêm phong; 01 áo khoác dài tay màu xanh nhạt không còn tính năng sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ; 01 điện thoại di động hiệu 01 điện thoại di động hiệu OPPO đã qua sử dụng, có gắn sim kèm theo bị cáo dùng liên lạc liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[5] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Yến N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Yến N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Yến N 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày 05/12/2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu số 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 582/KL-KTHS ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh C, được niêm phong; 01 áo khoác dài tay màu xanh nhạt.
Tịch thu sung vào công quỷ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu hiệu OPPO đã qua sử dụng, có gắn sim kèm theo.
(Các vật chứng Hiện Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trần Văn T đang quản lý – Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/3/2024).
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Yến N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Huệ |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
