Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày: 25/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng

Ông Đặng Quốc Vũ

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thành – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Tôn Đức Phong - Kiểm sát viên;

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Phòng xử án Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Phan Đình B, sinh ngày: 19/5/1973; tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi thường trú: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Con ông Phan Đình X (đã chết) và bà Lê Thị C; Anh, chị, em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Vợ: Bùi Thị H, sinh năm 1984; Có 05 người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 26/01/2024 cho đến nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa

* Luật sư bào chữa cho bị cáo Phan Đình B: Ông Trần Đức Đ - Luật sư Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh H; Địa chỉ: Số B đường N, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Bùi Thị H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)

- Cháu Phan Văn K, sinh năm 2007; Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt có lý do)

Người đại diện theo pháp luật của cháu K: Bà Lê Thị P, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt có lý do)

* Người làm chứng:

- Ông Bùi Ngọc H1, sinh năm 1957; Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)

- Bà Trần Thị M, sinh năm 1962; Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)

* Người chứng kiến: Ông Bùi Văn K1, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 26/01/2024, Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với Công an xã H, huyện H tổ chức tuần tra kiểm soát, đảm bảo an ninh trật tự tại địa bàn xã H. Khi lực lượng chức năng đến khu vực đường H thuộc địa phận thôn I, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thì phát hiện Phan Đình B (sinh năm 1973, trú tại thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 38B1-078.50 có biểu hiện nghi vấn nên lực lượng chức năng yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện tại túi áo bên trái phía trong áo khoác màu đen mà Phan Đình B đang mặc có 01 (một) bọc nilon màu vàng, bên trong có chứa 04 (bốn) gói màu xanh và 01 (một) gói màu hồng đều được dán kín mép, một mặt có ký hiệu chữ “A”. Mở ra kiểm tra bên trong các gói đều chứa nhiều viên nén hình tròn, màu hồng và màu xanh. Phan Đình B khai nhận các viên nén nêu trên là ma túy dạng “hồng phiến” mà B mua của một người đàn ông người Lào ngày 23/01/2024 với số tiền 4.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy thì B đem về cất giấu. Đến ngày 26/01/2024, Phan Đình B được một người đàn ông tên H2 (trú tại thành phố H, không rõ nhân thân, lai lịch) đặt vấn đề để mua ma túy. Phan Đình B đồng ý bán 05 (năm) gói ma túy cho H2 với giá tiền 7.500.000 đồng, địa điểm giao nhận ma túy là ở khu vực gần nhà xe H4 thuộc địa phận thôn I, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Khi Phan Đình B đang trên đường đi đến điểm hẹn để bán ma túy thì bị Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh phát hiện, bắt quả tang.

Kết quả điều tra xác định: P sang Lào để mua thịt trâu, bò khô để bán nên có quen biết một người đàn ông người Lào (không rõ nhân thân, lai lịch). Quá trình trao đổi, Phan Đình B biết người này có bán ma túy dạng “Hồng phiến” với giá rẻ. Đến khoảng tháng 12/2023, có một người đàn ông tên H2 (trú tại thành phố H, không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng số điện thoại 0708.953.xxx gọi cho Phan Đình B đặt vấn đề nhờ B mua hộ ma túy “hồng phiến”, B đồng ý. Sau đó, Phan Đình B sang Lào đặt vấn đề mua 05 (năm) gói ma túy “hồng phiến” với người đàn ông người Lào, người này đồng ý và hẹn với Phan Đình B vào ngày 23/01/2024 sẽ gặp nhau khu vực cột mốc số 8 để giao nhận ma túy. Khoảng 11 giờ ngày 23/01/2024, Phan Đình B đi đến điểm hẹn gặp người đàn ông người Lào, người này đưa cho B 05 (năm) gói hồng phiến, B đưa cho người này 3.500.000 kíp Lào (tương đương 4.500.000 đồng). Sau đó, Phan Đình B đưa số ma túy trên về cất giấu tại khu vực cửa rừng gần nhà ở thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Đến ngày 26/01/2024, người đàn ông tên H2 gọi điện cho Phan Đình B hỏi mua ma túy. Phan Đình B đồng ý bán 05 (năm) gói ma túy “hồng phiến” cho H2 với giá tiền 7.500.000 đồng và thống nhất địa điểm giao nhận ma túy ở gần khu vực nhà xe H4 (thuộc địa phận thôn I, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh). Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 26/01/2024, Phan Đình B đi ra khu vực cất giấu ma túy lấy 05 (năm) gói “hồng phiến” bỏ vào túi áo khoác bên trái của B đang mặc trên người rồi điều khiển đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 38B1- 078.50 đi đến điểm hẹn để bán ma túy cho người đàn ông tên H2. Khi Phan Đình B mang theo số ma túy trên đi đến khu vực đường H thuộc địa phận thôn I, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thì bị Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh phát hiện, bắt quả tang và thu giữ tang vật.

* Vật chứng thu giữ: Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát công an điều tra đã thu giữ:

  • - 01 (một) hộp giấy màu trắng, mặt trước có màu da cam và dòng chữ "ColdCalm BABY” đã được niêm phong, bên trong có 05 (năm) túi nilon chứa các viên nén hình tròn, màu hồng và màu xanh, trên bề mặt có ký hiệu “WY” ( được ký hiệu từ M đến M4) chứa 93,5674 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định);
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu GOLD BASE15, kiểu máy RMX3511, số IMEI 1: 355229008905552, số IMEI 2: 35522900895560, bên trong lắp sim số 0943.559.401, đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 38B1- 078.50, đã qua sử dụng;

* Kết luận giám định:

- Tại Bản Kết luận giám định số 313/KL-KTHS ngày 30/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận:

  • + Các viên nén màu hồng (ký hiệu M đến M4) gửi giám định đều là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 94,5129 gam;
  • + Các viên nén hình tròn màu xanh, đặc điểm (ký hiệu từ M đến M) gửi giám định không phải là ma túy, có tổng khối lượng 0,8824 gam.

Các vật chứng được chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh để xử lý theo quy định của pháp luật.

Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKS-P1 ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Phan Đình B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Đình B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
  • Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Đình B mức án từ 18 đến 19 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024.
  • - Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Điều 32; khoản 2 Điều 35; khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, xử phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Phan Đình B từ 10 đến 20 triệu đồng.

Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì tranh luận về tội danh, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Người bào chữa cho bị cáo Phan Đình B không có ý kiến gì tranh luận về tội danh. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện hoàn cảnh gia đình, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội được sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận các hành vi, cách thức thực hiện tội phạm của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:

Hành vi của bị cáo Phan Đình B là cố ý trực tiếp, xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo sang Lào để tìm mua ma túy đưa về Việt Nam bán kiếm lời, bị cáo B thực hiện hành vi phạm tội trong điều kiện sức khỏe bình thường, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tổng khối lượng mua bán trái phép chất ma túy của Phan Đình B là 94,5129 gam Methamphetamine.

Vì vậy, Cáo trạng số 42/CT-VKS-P1 ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Phan Đình B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

[3] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phan Đình B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với số lượng lớn. Hành vi phạm tội của bị cáo không những gây nguy hiểm cho xã hội, làm suy thoái giống nòi, phá hoại hạnh phúc, kinh tế của nhiều gia đình, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, các loại tội phạm khác mà còn xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý của Nhà nước về ma túy và xâm phạm nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Tội phạm về ma túy đang là tệ nạn nhức nhối của toàn xã hội, Nhà nước ta đã có rất nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn để từng bước xóa bỏ ma túy ra khỏi cộng đồng. Bị cáo đã bất chấp pháp luật, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện mua bán trái phép ma túy nhằm thu lợi cho bản thân. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy, cần xem xét áp dụng hình phạt đối với bị cáo phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung và chính sách khoan hồng của Nhà nước.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần áp dụng khoản 2 Điều 32; khoản 2 Điều 35, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung bằng tiền bị cáo Phan Đình B như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Về vật chứng thu giữ:

  • - Đối với của 01 (một) hộp giấy màu trắng, mặt trước có màu da cam và dòng chữ “ColdCalm BABY” đã được niêm phong, bên trong có 05 (năm) túi nilon chứa các viên nén màu hồng, màu xanh, trên bề mặt có ký hiệu “WY” (ký hiệu M đến M4) có khối lượng 93,5674 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định) là vật thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu GOLD BASE15, kiểu máy RMX3511, số IMEI 1: 355229008905552, số IMEI 2: 35522900895560, bên trong lắp sim số 0943.559.401, đã qua sử dụng. Xét thấy đây là các phương tiện, công cụ mà bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 38B1- 078.50, đã qua sử dụng. Xét thấy, quá trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc sở hữu riêng của bà Bùi Thị H (sinh năm 1984, trú tại xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh), thời điểm Phan Đình B sử dụng chiếc xe trên để mang ma túy đi bán thì bà H không biết. Vì vậy, không liên quan đến hành vi phạm tội nên áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 106 trả lại cho bà Bùi Thị H.

[7] Liên quan đến vụ án:

  • - Đối với người đàn ông tên H2 sử dụng số điện thoại 0708.953.xxx, theo lời khai của Phan Đình B thì H2 là người đặt vấn đề mua ma túy từ B. Sau đó Phan Đình B đưa ma túy đi bán cho H2 thì bị bắt quả tang. Do thông tin không đầy đủ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, làm rõ.
  • - Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tra cứu chủ sở hữu số điện thoại 0708.953.xxx, kết quả chủ sở hữu thuê bao tên là cháu Phan Văn K (sinh năm 2007, trú tại xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh). Tiến hành làm việc với Phan Văn K, K khai từ trước đến nay chưa đăng ký chủ thuê bao, chưa từng sử dụng số điện thoại nói trên và không quen biết hay liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy của Phan Đình B. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với Phan Văn K là có căn cứ.
  • - Đối với người đàn ông người Lào đã bán ma túy cho Phan Đình B vào ngày 23/01/2024. Do thông tin của người này không đầy đủ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, làm rõ.
  • - Đối với bà Bùi Thị H là chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 38B1- 078.50 mà Phan Đình B sử dụng để đem ma túy đi bán. Thời điểm Phan Đình B sử dụng xe của bà Bùi Thi H3 để đưa ma túy đi bán thì bà H3 không biết nên Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với bà H3 là có căn cứ.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo Phan Đình B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Đình B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Đình B mức án 18 (mười tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 26/01/2024). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án;

2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Điều 32; khoản 2 Điều 35; khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự: Phạt tiền bổ sung bằng tiền bị cáo Phan Đình B 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a, c khoản 2; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp giấy màu trắng, mặt trước có màu da cam và dòng chữ “ColdCalm BABY” đã được niêm phong, bên trong có 05 (năm) túi nilon chứa các viên nén hình tròn, màu hồng và màu xanh, trên bề mặt có ký hiệu “WY” ( được ký hiệu từ M đến M4) chứa 93,5674 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định). Theo KLGĐ số 313/KL-KTHS ngày 30/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H; Biên bản mở niêm phong vật chứng, cân xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 17/01/2024 tại Phòng K2 Công an tỉnh H;
  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu GOLD BASE15, kiểu máy RMX3511, số IMEI 1: 355229008905552, số IMEI 2: 35522900895560, bên trong lắp sim số 0943.559.401, đã qua sử dụng;
  • (Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 50/2024 ngày 31/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh)

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội: Buộc bị cáo Phan Đình B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1, 4 Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - CA, VKS, THA tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
  • - PV 06 – Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ, THS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạn Đình B phạm tội - Mua bán trái phép chất ma túy năm 2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger