|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày: 23/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thị Luyện
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Khiêm
Ông Nguyễn Văn Thục.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Anh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Ngô Tiến Thụy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Từ Văn L; sinh 10/9/1997, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Nơi thường trú: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 8/12; Đảng, đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc:Sán Dìu; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Từ Văn M, sinh năm 1966 và bà Đỗ Thị N, sinh năm 1968; có vợ: Leo Thị H, sinh năm 1997 và có 01 con sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Chưa có
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/8/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Bùi Thị H1, sinh năm 1991.
- Anh Nguyễn Viết C, sinh năm 1987.
- Anh Lê Văn C1, sinh năm 1987.
- Anh Vũ Ngọc Q, sinh năm 1972.
- Chị Đặng Thị B, sinh năm 1974.
- Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1991.
- Chị Phạm Thị H2, sinh năm 1985.
- Chị Nguyễn Thị Khánh H3, sinh năm 1974.
- Ông Từ Văn M, sinh năm 1966 (có mặt)
Địa chỉ: Căn hộ A, chung cư A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
Địa chỉ: Số D, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
Địa chỉ: Số B, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, đường H, TDP T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B, đường T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B, đường T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Y, xã N, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
Địa chỉ: Số C, đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 00 phút ngày 02/8/2023, Phòng Q2 (PA08) Công an tỉnh B phối hợp Công an thành phố B tiến hành kiểm tra, xử lý vi phạm về cư trú đã phát hiện tại số nhà C, đường T, phường N, thành phố B có 08 người Trung Quốc lưu trú trái phép, trong đó có 02 người có hộ chiếu, thị thực còn thời hạn ở lại Việt Nam gồm:
- Zeng Yu (T), giới tính: Nam; sinh ngày 23/01/2001; giấy chứng minh nhân dân số: 450126200101231318; số hộ chiếu EK4561436, thị thực số DA3680135, ký hiệu DL, có hiệu lực từ ngày 10/7/2023 đến ngày 06/8/2023; chỗ ở: P, tòa 31, số I, đường H, quận L, thành phố L, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.
- J1 (Tưởng Vân B1), giới tính: Nam; sinh ngày 01/9/1988; giấy chứng minh nhân dân số: 429006198809017976; số hộ chiếu EK5067015, thị thực số DA 3680137, ký hiệu DL, có hiệu lực từ ngày 10/7/2023 đến ngày 06/8/2023; chỗ ở: Số A, tổ A, làng T, xã T, thành phố T, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc.
Có 06 người không có thị thực ở Việt Nam gồm:
- Jiang Long Bo (Tưởng Long B2), giới tính: Nam; sinh ngày 01/12/1988; hộ chiếu số: EF7431906 (không có thị thực); giấy chứng minh nhân dân số: 429006198812017950; chỗ ở: số 27, tổ 2, làng Tưởng Trường, xã Tịnh Đàm, thành phố Thiên Môn, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc.
- Liang Ting Fang (Lương Đình P), giới tính: Nữ; sinh ngày 14/01/1983; giấy chứng minh nhân dân số: 452123198310141132X; chỗ ở: Số C, đội 1, xóm L, Hội đồng dân uỷ Mông Điền, thị trấn Tân Châu, huyện Tân Dương, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.
- Pan Yan Zhong (Phan Diên T1), sinh năm 1987, nơi thường trú: số 291, đội F, thôn L, thị trấn T, huyện T, thành phố N, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc (không có thị thực và giấy tờ tuỳ thân).
- Lu Xiang (Lư T2), sinh năm 1985, nơi thường trú: thôn Hoàng Lô, huyện Tân Dương, thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.
- Liang Zhi Qiang (Lương Chí C2), sinh năm 1985, nơi thường trú: thôn Lương, thị trấn Binh Châu, huyện Binh Dương, thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.
- Xie Shi Min (Tạ Thế M1), sinh năm 1998, nơi thường trú: số A, đội E, thôn B, thị trấn B, huyện B, thành phố N, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.
Những tài sản, đồ vật thu giữ gồm: 30 điện thoại di động các loại; 02 máy tính xách tay; 03 máy tính để bàn và số tiền 10.300 NDT.
Cả 06 đối tượng người Trung Quốc không có thị thực đều khai nhận nhập cảnh trái phép vào Việt Nam; 02 đối tượng có hộ chiếu khai nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam bằng thị thực du lịch. Mục đích của những người Trung Quốc trên đến Việt Nam để thực hiện hoạt động lấy thông tin của người Trung Quốc và chuyển dữ liệu qua mạng xã hội Tiktok do người chủ ở Trung Quốc thuê.
Kết quả kiểm tra, xác minh đã làm rõ đối tượng tổ chức cho nhóm người Trung Quốc trên ở lại Việt Nam trái phép là Từ Văn L, sinh năm 1997 ở thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Ngày 09/8/2023, Phòng Q2 (P2) Công an tỉnh B ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 02 và chuyển hồ sơ, tài liệu đến Cơ quan An ninh điều tra (PA 09) Công an tỉnh B để điều tra theo thẩm quyền.
Kết quả điều tra xác định diễn biến hành vi phạm tội của Từ Văn L như sau:
Khoảng năm 2015- 2016, Từ Văn L sang Trung Quốc làm thuê nên có thể giao tiếp bằng tiếng Trung Quốc. Từ năm 2019, L làm công nhân tại một số công ty ở khu công nghiệp T huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang, đến khoảng tháng 2/2023 thì nghỉ. Khoảng tháng 3/2023, L đến tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang chơi; khi vào quán ăn ngồi ăn cạnh bàn của 03 người Trung Quốc, L quay sang nói chuyện thì 01 người xin số điện thoại và kết bạn qua ứng dụng Wechat với L để làm quen. Sáng hôm sau, người Trung Quốc này điện thoại cho L nhờ thuê cho họ 01 căn hộ chung cư để ở và hứa trả công cho 10.000.000 đồng. L lên mạng tìm kiếm thông tin và liên hệ với Bùi Thị H1, sinh năm 1991, trú tại căn hộ A, chung cư A, phường N, thành phố B là người môi giới thuê nhà thông báo có căn hộ D tầng B chung cư A, thành phố B cho thuê với giá 16.000.000 đồng/tháng, phải đặt cọc 01 tháng kèm theo tiền thuê phòng 05 tháng, tổng cộng 06 tháng là 96.000.000 đồng. L liên hệ với người Trung Quốc thông báo giá thuê căn hộ, người này đồng ý và hẹn L đến khu vực chợ M4 để nhận tiền thuê căn hộ và 10.000.000 đồng tiền công. Sau khi nhận tiền của người Trung Quốc, L ký hợp đồng thuê căn hộ chung cư với chị H1 (chị H1 được chủ nhà uỷ quyền ký hợp đồng cho thuê nhà). Ngày 29/3/2023 L chuyển khoản 96.000.000 đồng cho chị H1 (BL: 277, 319).
Nhóm người Trung Quốc đến ở tại căn hộ này được khoảng 02 tháng thì liên hệ nhờ L thuê 01 căn hộ chung cư khác để ở và hứa trả công 10.000.000 đồng. L đồng ý và liên hệ với chị H1 tìm thuê được căn hộ 12A15 chung cư Q, thành phố B do anh Vũ Ngọc Q, sinh năm 1972 ở số nhà A đường H, phường Đ, thành phố B làm chủ với giá 8.000.000 đồng/tháng, phải đặt cọc 10.000.000 kèm theo tiền thuê 03 tháng, tổng cộng là 34.000.000 đồng. L thông báo cho người Trung Quốc trên thì người này đồng ý và đưa cho L 34.000.000 đồng tiền thuê căn hộ và 10.000.000 đồng tiền công. Ngày 27/5/2023, L chuyển khoản thanh toán cho chị H1 34.000.000 đồng tiền thuê căn hộ (BL: 282, 316). Nhóm người Trung Quốc chuyển từ căn hộ D chung cư A đến ở tại căn hộ A chung cư Q được khoảng 01 tháng thì về nước.
Ngày 31/5/2023, người đàn ông Trung Quốc (trước đó nhờ L thuê nhà) gọi điện cho L bảo xuống thành phố B để đón nhóm người Trung Quốc không có giấy tờ, mới từ Trung Quốc sang Việt Nam. L đồng ý đi đến thành phố B gặp người đàn ông Trung Quốc đón 05 người mới từ Trung Quốc đến gồm: Jiang Long B3, Liang T, Liang Z, Pan Y; Lu X và cùng đi ăn ở quán đồ nướng. Khi ngồi ăn, L được 02 người Trung Quốc mới đến nói cho biết việc họ không có giấy tờ, nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, nhờ L tìm thuê nhà để ở và giúp đỡ họ trong quá trình ở Việt Nam, hứa sẽ trả công cho L. Sau khi ăn xong, người đàn ông Trung Quốc đưa 05 người Trung Quốc này đến một nhà nghỉ ở thành phố B. L về thành phố B liên hệ với Bùi Thị H1 để tìm thuê nhà. Chị H1 tìm được ngôi nhà ở số C đường T, phường N, thành phố B do anh Nguyễn Viết C, sinh năm 1987, trú tại số nhà D, đường N, phường T, thành phố B làm chủ cho thuê. Ngày 02/6/2023, chị H1 thông báo cho L biết có ngôi nhà trên cho thuê với giá 15.000.000 đồng/tháng, phải đặt cọc 01 tháng kèm tiền thuê nhà 03 tháng, tổng cộng 04 tháng là 60.000.000 đồng. L thông báo cho người Trung Quốc biết về ngôi nhà và nói giá tiền đặt cọc thuê nhà 04 tháng, cộng tiền công tìm nhà là 27.000 NDT. Sau đó L dẫn 02 người Trung Quốc là Liang Ting F và Liang Z (là 2 chị em) đi xem nhà, họ đồng ý thuê căn nhà trên và đưa cho L 27.000 NDT. Luyện đến gặp chị Phạm Thị H2, sinh năm 1985, hiện đang làm kế toán cho công ty TNHH B4 tại địa chỉ 13-15, đường M, thành phố B nhờ đổi tiền, chị H2 liên hệ với Nguyễn Thị Khánh H3, sinh năm 1974, kinh doanh vàng bạc tại số C L, phường T, thành phố B để đổi 27.000 NDT sang tiền Việt Nam được 88.425.000 VNĐ (01 NDT đổi được 3.275.000 VNĐ). Chị H3 chuyển khoản số tiền trên cho chị H2; chị H2 chuyển khoản cho L 88.000.000 đồng, được hưởng 425.000 đồng. Luyện về gặp chị H1 và anh C ký hợp đồng thuê nhà với anh C (mẫu hợp đồng do chị H1 chuẩn bị sẵn); trong hợp đồng L lấy tên và số chứng minh nhân dân của Từ Văn H4, sinh năm 1994 là anh trai L đang lao động tại Nhật Bản và ký mạo danh tên của Từ Văn H4. Luyện thanh toán tiền thuê nhà hết 60.000.000 đồng, được hưởng lợi 28.000.000 đồng (BL: 490-469; 466-484; 543-548).
Ngày 10/7/2023, Zeng Y, sinh năm 2001 (là con trai của Liang T) cùng Jiang Yun P1, sinh năm 1988 (ở gần nhà Z) nhập cảnh vào Việt Nam bằng Visa du lịch. Khi đến Việt Nam, Zeng Y liên hệ với mẹ là Liang T3 Fang gửi vị trí và tự thuê xe đi đến T ở cùng nhà với 05 người Trung Quốc trên. Ngày 27/7/2023, X2, được ông chủ người Trung Quốc bố trí người đưa vượt biên vào Việt Nam rồi đưa đến số nhà C T, thành phố B ở cùng nhóm người Trung Quốc. Quá trình nhập cảnh vào Việt Nam và đến căn nhà 39 T ở, Xie S đều đi theo người mà ông chủ Trung Quốc đã bố trí sẵn (BL: 431-433; 446-461).
Từ Văn L biết rõ 05 người Trung Quốc đến ở tại căn nhà thuê trên là nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, không có giấy tờ hợp pháp, nhưng không biết có thêm 03 người Trung Quốc nữa đến ở tại ngôi nhà này. Để tránh bị các cơ quan chức năng phát hiện, L dặn nhóm người Trung Quốc không được đi ra ngoài; L giúp họ mua đồ dùng cá nhân, máy tính, khoảng 2- 3 ngày mua thức ăn đem đến cho họ và thanh toán tiền điện, nước hàng tháng. Đến ngày 02/8/2023 thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện.
L khai, người đàn ông Trung Quốc nhờ L xuống thành phố B đón 05 người Trung Quốc và người nhờ L thuê cho căn chung cư A, chung cư Q là cùng một người. L và người này liên hệ với nhau qua wechat và T4. Trước khi bị Cơ quan điều tra phát hiện, L đã thoát cả 02 tài khoản trên nên cơ quan điều tra không trích xuất được thông tin để phục vụ điều tra.
Nhóm người Trung Quốc khai về diễn biến quá trình nhập cảnh trái phép vào Việt Nam và mục đích ở lại Việt Nam như sau:
Jiang Long B3 sử dụng phần mềm Telegram lấy tên là “XIAN DAO ZHANG” và kết bạn với tài khoản Telegram của ông chủ người Trung Quốc có tên “Si Liu” nhưng chưa gặp người này lần nào, chỉ liên lạc qua điện thoại tại ứng dụng Telegram. Khoảng cuối tháng 5/2023, “Si Liu” bảo Jiang Long B3 sang Việt Nam tìm kiếm khách hàng người Trung Quốc qua mạng xã hội Tiktok rồi gửi thông tin cho “Si Liu”, sẽ trả công 30 NDT/01 khách hàng; sẽ bố trí người đưa vượt biên sang Việt Nam và trả tiền chi phí đi lại, ăn uống, sinh hoạt tại Việt Nam. Jiang Long B3 đồng ý và rủ thêm người bạn ở gần nhà là Jiang Y; bạn gái là Liang Ting F đi cùng; L1 rủ thêm em trai là Liang Zhi Q1, con trai Zeng Y và hai người họ hàng là Pan Yan Z, Lu X đi cùng. Sau đó, Jiang Long B3 thông báo lại cho “Si Liu” biết đã rủ thêm được 6 người khác, tổng số là 7 người sang Việt Nam làm. Ngày 31/5/2023, “Si Liu” cử người đi xe ô tô đến thành phố N, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc gặp và đưa cho J Long Bo 60.000 NDT rồi đón 05 người gồm: Jiang Long B3, Liang T, Liang Z, Pan Y, L2 đưa đến khu vực biên giới giáp Việt Nam và được một người đàn ông Việt Nam đón, đưa đi bộ theo đường mòn vượt biên trái phép sang Việt Nam (Jiang Y và Zeng Y sẽ làm hộ chiếu, Visa rồi đi sau). Tại đây, có 01 xe ô tô đón và đưa đến thành phố B thì có một người đàn ông Trung Quốc (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) và một người đàn ông Việt Nam (sau này biết tên là L) đón và đưa đi ăn uống. Trong lúc ăn uống, Jiang Long B3 và Liang Z1 Qiang nói chuyện với L bằng tiếng Trung Quốc, họ không có giấy tờ, nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, nhờ L tìm thuê giúp cho căn nhà để ở và giúp họ trong quá trình ở Việt Nam; Liang Z cho L tài khoản Telegram để liên lạc. Ăn uống xong, nhóm người Trung Quốc được đưa đến một nhà nghỉ gần đó. Buổi sáng ngày 03/6/2023, L thuê xe ô tô đến đón 02 chị em Liang Zhi Q1 và Liang Ting F đi xem và thống nhất thuê ngôi nhà ở thành phố B.
Khoảng giữa tháng 7/2023 thì Jiang Yun P1 và Zeng Y nhập cảnh vào Việt Nam bằng Visa du lịch và tự bắt xe đến thành phố B ở cùng nhóm Jiang Long B3. Ngày 27/7/2023 thì anh X1 Shi Min được ông chủ người Trung Quốc tổ chức cho nhập cảnh trái phép vào Việt Nam và đưa đến ở, làm việc tại số nhà C đường T, phường N, thành phố B.
Quá trình ở tại ngôi nhà trên, L dặn mọi người không được đi ra ngoài, khoảng 2-3 ngày L giúp mua đồ ăn được mang đến để vào tủ lạnh để mọi người tự nấu. Công việc hàng ngày của nhóm người Trung Quốc là lên mạng xã hội TikTok để nhắn tin làm quen và lấy thông tin của các tài khoản TikTok khác rồi tổng hợp lại chuyển về cho ông chủ ở Trung Quốc thông qua ứng dụng Telegram để được nhận tiền công; không rõ ông chủ sử dụng thông tin trên vào mục đích gì (BL: 409-484).
Cơ quan điều tra thu giữ hợp đồng thuê nhà đề ngày 03/6/2023 giữa anh Nguyễn Viết C (chủ nhà) và Từ Văn H4 (bên thuê nhà) và tiến hành trưng cầu giám định. Tại kết luận giám định số 1650/KL-KTHS ngày 07/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chữ viết “Huấn- Từ Văn H4” dưới mục “Đại diện bên B” trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu A) so với chữ viết cùng dạng, chữ viết của Từ Văn L trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1 đến M4) là do cùng một người ký, viết ra.(BL: 197- 199; 508, 509).
Kết luận giám định số 6458/KL-KTHS ngày 03/11/2023 của V Bộ C3 đối với 30 chiếc điện thoại di động (trong đó có 01 điện thoại thu giữ của Từ Văn L và 29 điện thoại thu giữ của nhóm người Trung Quốc); 02 laptop (máy tính xách tay); 03 cây máy tính; 02 USB; 04 thẻ sim điện thoại (thu giữ của nhóm người Trung Quốc) như sau: đã khôi phục, trích xuất được nhiều dữ liệu điện tử trên các thiết bị trên gồm các tệp âm thanh, tệp ảnh, tệp video, tệp tài liệu (E, W, PDF...), được lưu giữ trong 01 ổ cứng kèm theo. Không xác định được các dữ liệu này có liên quan đến hành vi tổ chức ở lại Việt Nam trái phép, nhập cảnh trái phép vào Việt Nam hoặc hành vi vi phạm pháp luật khác ở Việt Nam của người Trung Quốc và các đối tượng khác có liên quan (BL: 186- 196).
Tiến hành cho Từ Văn L nhận dạng qua ảnh 05 người Trung Quốc; cho chị Phạm Thị H2, anh Nguyễn Viết C và 05 người Trung Quốc nhận dạng Từ Văn L qua ảnh. Kết quả: Từ Văn L nhận dạng được 05 người Trung Quốc và xác định những người đó do L đón ở thành phố B và thuê số nhà C T, thành phố B cho họ ở từ ngày 03/6/2023. Cả 05 người Trung Quốc trên đều nhận dạng đúng ảnh Từ Văn L và xác định L là người thuê nhà số C T, thành phố B và giúp họ mua đồ dùng, thức ăn trong thời gian ở đó. Chị Phạm Thị H2 và anh Nguyễn Viết C đều nhận dạng đúng ảnh Từ Văn L (BL: 350-403).
Cơ quan điều tra tiến hành dẫn giải Jiang Long B3 đến thành phố B, tỉnh Bắc Ninh để xác định nhà nghỉ nơi 05 người Trung Quốc lưu trú từ ngày 01 đến ngày 03/6/2023. Kết quả, xác định được nhà nghỉ T6 ở địa chỉ số B T, phường Đ, thành phố B do Đặng Thị B, sinh năm 1974, trú tại thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Ninh quản lý và Nguyễn Hữu T, sinh năm 1991 là con trai bà B là người dọn dẹp, trông coi nhà nghỉ. Bà B và anh T đều xác định từ ngày 01 đến ngày 03/6/2023 không có nhóm 05 người Trung Quốc nào lưu trú tại nhà nghỉ T6; kiểm tra sổ sách theo dõi khách đến lưu trú không có thông tin của Từ Văn L và 05 người Trung Quốc. Kiểm tra dữ liệu lưu trữ trong đầu ghi camera của nhà nghỉ không còn lưu dữ liệu từ ngày 01 đến ngày 03/6/2023 (BL: 9; 528-538). Tiến hành cho Từ Văn L và nhóm người Trung Quốc nhận dạng bà B và anh T qua ảnh nhưng không có kết quả.
Về vật chứng, tài sản thu giữ trong vụ án: Cơ quan điều tra tạm giữ của Từ Văn L 01 điện thoại di động; 02 chứng minh nhân dân (số [...] của L và số [...] của Từ Văn Huấn). Tạm giữ của 08 người Trung Quốc: 29 điện thoại, 03 máy tính cây (gồm cây, màn hình, bàn phím, chuột, dây nguồn), 02 laptop, 02 Usb, 04 thẻ sim, 13.000 NDT, 03 cuốn hộ chiếu, 04 CCCD, 01 giấy phép lái xe.
Cơ quan điều trả lại cho 08 người Trung Quốc 13.000 NDT; 03 cuốn hộ chiếu; 04 CCCD; 01 giấy phép lái xe (BL: 608-612). Những đồ vật, tài sản còn lại gồm: 30 điện thoại các loại; 03 máy tính; 02 laptop; 02 Usb; 04 thẻ sim; 02 chứng minh nhân mang tên Từ Văn L và Từ Văn H4 được nhập kho vật chứng theo quy định (BL: 613-616).
Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS- P1 ngày 27 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Từ Văn L về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” theo điểm c khoản 2 Điều 348 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Từ Văn L khai: Bị cáo biết 05 người Trung Quốc nhờ bị cáo thuê nhà nhập cảnh vào Việt Nam không có giấy tờ nhưng bị cáo vẫn thuê nhà giúp vì mục đích để hưởng lợi. Nội dung cáo trạng thể hiện đúng diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo, xác nhận đã thu lợi bất chính số tiền 28.000.000 đồng. Bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại bị thu giữ trong quá trình phạm tội. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chứng minh nhân dân mang tên bị cáo và em trai bị cáo (Từ Văn H4) bị thu giữ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – ông Từ Văn M trình bày: Do bị cáo tác động nhờ gia đình nộp số tiền 28.000.000đồng để khắc phục hậu quả nên ngày 23/4/2024 ông đã nộp số tiền 28.000.000đồng vào Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Ông không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 4 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Từ Văn L từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 10/8/2023. Phạt bổ sung bằng tiền từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng.
- Về vật chứng, tài sản đồ vật thu giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 của bị cáo Từ Văn L.
- Trả lại bị cáo Từ Văn L 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Từ Văn L; 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Từ Văn H4 - Đối với 29 điện thoại di động (theo Quyết định chuyển vật chứng số 06/QĐ-VKS-P1 ngày 27/02/2024); 02 (hai) laptop nhãn hiệu dell màu bạc; 03 cây máy tính nhãn hiệu Xigmatek màu đen kèm theo 03 màn hình nhãn hiệu Samsung, 03 chuột và bàn phím hiệu Fulen, dây cắm nguồn của 03 máy tính; 02 USB Kingston 16GB và 04 (bốn) thẻ sim điện thoại (01 sim điện thoại Vinaphone có dãy số 89840200011449672490; 01 sim điện thoại Viettel có dãy số 898404800326507384;01 sim điện thoại 5G Z169-HB có dãy số 11223542080080029977; 01 sim điện thoại có dãy số 8986112234772695301B) không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Từ Văn L trong vụ án này cần trả lại Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B.
3. Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo nộp lại 28.000.000đồng sung ngân sách nhà nước (ngày 23/4/2024 ông Từ Văn M bố đẻ bị cáo đã nộp số tiền 28.000.000đồng tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu tiền số 0000923 ngày 23/4/20240).
4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt giấy báo phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa, trong hồ sơ đã có lời khai của họ. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ. Trong vụ án còn có người liên quan là người Trung Quốc. Tuy nhiên, do những người Trung Quốc đã bị trục xuất khỏi Việt Nam hoặc đã về nước nên Tòa án không đưa vào tham gia tố tụng.
[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được. Căn cứ Biên bản kiểm tra kiểm tra tạm trú, lưu trú, xuất nhập cảnh đối với người nước ngoài lập hồi 18 giờ 00 phút ngày 02/8/2023 của Công an thành phố B ,căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Thông qua mối quan hệ quen biết từ trước với một người đàn ông Trung Quốc tại Việt Nam, ngày 31/5/2023 bị cáo Từ Văn L đến thành phố B đón 05 người Trung Quốc không có giấy tờ, nhập cảnh trái phép vào Việt Nam gồm: Jiang Long B3, Liang T, Liang Z, Pan Y; Lu Xiang. Sau đó bị cáo tìm thuê ngôi nhà ở số C đường T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang để những người Trung Quốc này ở trái phép từ ngày 03/6/2023 để hưởng tiền công. Đến tháng 7/2023, có thêm 03 người Trung Quốc nữa gồm: Jiang Y và Z2 nhập vào Việt Nam bằng Visa du lịch; Xie Shi M2 nhập cảnh trái phép vào Việt Nam và tự bắt xe đến ở cùng nhóm 05 người Trung Quốc trên. Ngày 02/8/2023, Phòng Q2 (PA08) Công an tỉnh B phối hợp Công an thành phố B tiến hành kiểm tra phát hiện. Kết quả điều tra xác định số tiền bị cáo hưởng lợi từ việc tìm thuê nhà cho 05 người Trung Quốc ở lại Việt Nam là 28.000.000đồng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ 5 người Trung Quốc không có giấy tờ nhập cảnh vào Việt Nam đồng thời cũng nhận thức rõ việc tổ chức cho 5 người Trung Quốc này ở lại Việt Nam là trái phép nhưng vì mục đích vụ lợi đã cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 348 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú ở Việt Nam; xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, làm giảm hiệu quả và hiệu lực quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú tại Việt Nam. Do đó, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tù giam có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này cũng như giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội đã tác động gia đình tự nguyện nộp lại số tiền 28.000.000đồng thu lời bất chính. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo khi quyết định mức hình phạt.
[6] Về về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để sung nộp ngân sách nhà nước.
[8] Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật thu giữ trong vụ án:
[8.1] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, vỏ màu trắng, IMEI là 357814435619401, IMEI 2 là 357814435799120, bên trong có lắp 01 sim điện thoại Vinaphone trên sim có dãy số 89840200011446217679 của bị cáo dùng làm phương tiện,công cụ phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8.2] Đối với 07 chiếc điện thoại thu giữ của 05 người Trung Quốc gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu đen, có số IMEI 359201070162830, bên trong có lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0852.312.xxx, trên sim có dãy số 89840200011492966542 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 mini, vỏ màu hồng, có số IMEI 356073900939627, bên trong lắp 01 sim điện thoại Viettel số 84349487825, trên sim có dãy số 8984048000326507414 của Jiang Long B3; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, vỏ màu xanh tím, có số IMEI 1: 867641046765791, IMEI 2: 867641046765783, bên trong có lắp 01 sim điện thoại Viettel số 84397296937, trên sim có dãy số 8984048000326507343 của Liang T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, vỏ màu ghi đen, có số IMEI 353917109296499, IMEI 2: 353917109710747, bên trong có lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0819.256.xxx, trên sim có dãy số 89840200011449254455 của Zeng Yu; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, vỏ màu trắng, có số IMEI 354842097356312, bên trong có lắp 01 sim điện thoại có dãy số 89840200011493001539 của Jiang Y; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu đỏ, có số IMEI 359174079052106, bên trong không lắp sim điện thoại của Lu X; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu hồng, có số IMEI 359178070831095, bên trong không lắp sim điện thoại của Liang Zhi Qiang là của các đối tượng người Trung Quốc, không có thông tin liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này, các đối tượng đều xác định đã cũ, không yêu cầu nhận lại, xin cung cấp để phục vụ điều tra. Do vậy, cần trả lại Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh B.
[8.3] Đối với 22 chiếc điện thoại gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu đen, có số IMEI 355376082224390, bên trong không lắp sim điện thoại; 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu đen, có số IMEI 359471082505264, bên trong có lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0945.737.xxx, trên sim có dãy số 8980200011491470645; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu bạc, có số IMEI 359172077962342, bên trong có lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0949.370.xxx, trên sim có dãy số 89840200011450235823; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu đen, có số IMEI 355841087717516, bên trong không lắp sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu trắng bạc, có số IMEI 355847081348661, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0852.324.xxx, trên sim có dãy số 89840200011492966591; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu vàng, có số IMEI 359151074046796, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0843.226.xxx, trên sim có dãy số 89840200011465895603; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone S, vỏ màu vàng, bên trong có lắp 01 sim điện thoại Vinaphone có dãy số 89840200011465895405; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Huawei, vỏ màu xanh, có số IMEI 1: 868290033110170, số IMEI2: 868290033177435, bên trong không lắp sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Huawei, vỏ màu xanh, có số IMEI 1: 865925048687042, số IMEI 2: 865925048699013, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0814.058.xxx, trên sim có dãy số 89840200011435053044; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu bạc, có số IMEI1: 863513031749334, số IMEI2: 863513031749326, bên trong không lắp sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, vỏ màu trắng, có số IMEI1: 861997041598116, số IMEI2: 861997041598124, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone trên sim có dãy số 89840200011492966625; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, vỏ màu đen, có số IMEI1: 861997046224072, số IMEI2: 861997046224080, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone trên sim có dãy số 89840200011435053028; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, vỏ màu đen, có số IMEI1: 862756042207997, số IMEI2: 862756042208003, bên trong lắp 01 sim điện thoại Viettel số 84374440183, trên sim có dãy số 8984048000326507238; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, vỏ màu trắng, có số IMEI1: 867252032428293, số IMEI2: 867252032428301, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0816.058.xxx, trên sim có dãy số 89840200011435053093; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, vỏ màu đen, có số IMEI1: 865262040422073, số IMEI2: 865262040422081, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0819.602.xxx, trên sim có dãy số 89840200011496547306; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, vỏ màu xanh, có số IMEI1: 861997041595393, số IMEI2: 861997041595401, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0817.682.xxx,89840200011435052988; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu đen, có số IMEI1: 867679067316144/78, số IMEI2: 867679067316151/78, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0859.527.xxx, trên sim có dãy số 89840200011493001554; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu đen, có số IMEI1: 867679067332521/78, số IMEI2: 867679067332539/78, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0814.870.xxx, trên sim có dãy số 89840200011435053069; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu xanh xám, có số IMEI1: 862288062138647/78, số IMEI2: 862288062138654/78, bên trong lăp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0817.654.xxx, trên sim có dãy số 89840200011449672482; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu đen, có số IMEI 1: 865834056726504/78, số IMEI 2: 865834056726512/78, bên trong không lắp sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu tím, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone có dãy số 89840200011285522692; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu hồng nhạt, bên trong không lắp sim điện thoại và 02 (hai) laptop nhãn hiệu dell màu bạc; 03 (ba) cây máy tính nhãn hiệu Xigmatek màu đen kèm theo 03 màn hình nhãn hiệu Samsung, 03 chuột và bàn phím hiệu Fulen, dây cắm nguồn của 03 máy tính; 02 USB Kingston 16GB và 04 (bốn) thẻ sim điện thoại (gồm: 01 sim điện thoại Vinaphone có dãy số 89840200011449672490; 01 sim điện thoại Viettel có dãy số 898404800326507384;01 sim điện thoại 5G Z169-HB có dãy số 11223542080080029977; 01 sim điện thoại có dãy số 8986112234772695301B) đều không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này. Các đối tượng người Trung quốc đều trình bày đây là đồ dùng chung của mọi người, không phải tài sản riêng của cá nhân nào nên không có nhu cầu nhận lại, xin cung cấp để phục vụ điều tra (BL 486 – tập 2). Do vậy, cần trả lại Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh B.
[8.4] Đối với 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Từ Văn L; 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Từ Văn H4 là giấy tờ cá nhân cần trả lại cho bị cáo.
[8.5] Đối với 13.000 NDT; 03 cuốn hộ chiếu; 04 CCCD; 01 giấy phép lái xe thu giữ trong quá trình điều tra, Cơ quan điều trả lại cho 08 người Trung Quốc là phù hợp (BL: 608-612).
[9] Về số tiền thu lời bất chính: Kết quả điều tra xác định số tiền bị cáo hưởng lợi từ việc tổ chức cho 5 người Trung Quốc ở lại Việt Nam trái phép là 28.000.000 đồng. nên cần buộc bị cáo nộp lại số tiền 28.000.000đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự ; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Đối với hành vi của bị cáo Từ Văn L nhờ chị Bùi Thị H1 thuê căn hộ D chung cư A và căn hộ A chung cư Q để cho nhóm người Trung Quốc ở trong khoảng thời gian từ tháng 3/2023 đến 27/5/2023. Tuy nhiên, nhóm người Trung Quốc này đã về nước, không xác định được số người; lai lịch và các giấy tờ liên quan đến việc nhập cảnh vào Việt Nam của họ. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với bị cáo L về hành vi này là có căn cứ.
[11] Đối với bà Đặng Thị B và anh Nguyễn Hữu T là người quản lý nhà nghỉ và là nhân viên nhà nghỉ T6 ở thành phố B đều xác định từ ngày 01 đến ngày 03/6/2023 không có nhóm 05 người Trung Quốc nào lưu trú tại nhà nghỉ T6; kiểm tra sổ sách theo dõi khách đến lưu trú không có thông tin của Từ Văn L và 05 người Trung Quốc. Kiểm tra dữ liệu lưu trữ trong đầu ghi camera của nhà nghỉ không còn lưu dữ liệu từ ngày 01 đến ngày 03/6/2023. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho bị cáo Từ Văn L và nhóm người Trung Quốc nhận dạng bà B và anh T qua ảnh nhưng không có kết quả. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý đối với bà Đặng Thị B và anh Nguyễn Hữu T là phù hợp.
[12] Đối với chị Bùi Thị H1 là người môi giới thuê nhà; anh Nguyễn Viết C là chủ ngôi nhà số C, đường T, phường N, thành phố B đã cho bị cáo T5 Văn Luyện thuê nhà nhưng không biết mục đích bị cáo thuê để cho người Trung Quốc không có giấy tờ ở lại Việt Nam trái phép. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với chị H1 và anh C là phù hợp.
[13] Đối với chị Phạm Thị H2 và chị Nguyễn Thị Khánh H3 có hành vi đổi số tiền 27.000 NDT sang tiền VNĐ khi chưa được nhà nước cấp phép, đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. Ngày 25/01/2024, Cơ quan điều tra có Công văn số 104/ANĐT gửi Công an thành phố B kèm tài liệu liên quan để đề nghị Chủ tịch UBND thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
[14] Đối với người đàn ông Trung Quốc nhờ bị cáo thuê căn Duplex 07 chung cư A và căn 12A15 chung cư Q ở thành phố B và nhờ bị cáo đến thành phố B đón 05 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, bị cáo khai không biết lai lịch của người này, chỉ liên hệ với nhau qua wechat và T4. Hiện tài khoản wechat, T4 của bị cáo đã thoát không đăng nhập lại được nên không có cơ sở để xác minh làm rõ.
[15] Đối với đối tượng người Trung Quốc có tên là Xie S có hành vi nhập cảnh trái phép vào Việt Nam ngày 27/7/2023, kết quả điều tra xác định năm 2020 X2 bị Công an thành phố H ra Quyết định trục xuất theo thủ tục hành chính số 128/QĐ-TX ngày 13/01/2021 vì có hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định”. Hành vi Xie Shi M3 nhập cảnh trái phépViệt Nam ngày 27/7/2023 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra không xử lý về hình sự là phù hợp.
[16] Đối với hành vi lưu trú không có giấy phép tại Việt Nam của Nhóm người Trung Quốc, ngày 09/8/2023 Giám đốc Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 06 người Trung Quốc không có thị thực lưu trú tại Việt Nam gồm: J, Liang T, Liang Z, Pan Y, Lu X, Xie S về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất, nhập cảnh theo quy định của pháp luật” và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với Zeng Y, Jiang Y về hành vi “Người nước ngoài nhập cảnh hoạt động không đúng mục đích, chương trình đã đề nghị xin cấp thị thực” là có căn cứ.
[17] Về án phí: Bị cáo Từ Văn Luyện phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 4 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo Từ Văn Luyện 05 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”.
Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 10/8/2023. Phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000đồng (bằng chữ: Mười triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật thu giữ và số tiền thu lợi bất chính:
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
2.1. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12,vỏ màu trắng, IMEI là 357814435619401; IMEI 2 là 357814435799120; bên trong có lắp 01 sim điện thoại Vinaphone trên sim có dãy số 89840200011446217679 của bị cáo Từ Văn L.
2.2. Trả lại Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh B:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu đen, có số IMEI 359201070162830, bên trong có lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0852.312.xxx, trên sim có dãy số 89840200011492966542 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 mini, vỏ màu hồng, có số IMEI 356073900939627, bên trong lắp 01 sim điện thoại Viettel số 84349487825, trên sim có dãy số 8984048000326507414 của Jiang Long B3;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, vỏ màu xanh tím, có số IMEI 1: 867641046765791, IMEI 2: 867641046765783, bên trong có lắp 01 sim điện thoại Viettel số 84397296937, trên sim có dãy số 8984048000326507343 của Liang T;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, vỏ màu ghi đen, có số IMEI 353917109296499, IMEI 2: 353917109710747, bên trong có lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0819.256.xxx, trên sim có dãy số 89840200011449254455 của Zeng Y;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, vỏ màu trắng, có số IMEI 354842097356312, bên trong có lắp 01 sim điện thoại có dãy số 89840200011493001539 của Jiang Y;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu đỏ, có số IMEI 359174079052106, bên trong không lắp sim điện thoại của Lu X và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu hồng, có số IMEI 359178070831095, bên trong không lắp sim điện thoại của Liang Zhi Q1.
- 22 chiếc điện thoại gồm: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu đen, có số IMEI 355376082224390, bên trong không lắp sim điện thoại; 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu đen, có số IMEI 359471082505264, bên trong có lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0945.737.xxx, trên sim có dãy số 8980200011491470645; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu bạc, có số IMEI 359172077962342, bên trong có lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0949.370.xxx, trên sim có dãy số 89840200011450235823; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu đen, có số IMEI 355841087717516, bên trong không lắp sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu trắng bạc, có số IMEI 355847081348661, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0852.324.xxx, trên sim có dãy số 89840200011492966591; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu vàng, có số IMEI 359151074046796, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0843.226.xxx, trên sim có dãy số 89840200011465895603; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone S, vỏ màu vàng, bên trong có lắp 01 sim điện thoại Vinaphone có dãy số 89840200011465895405; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Huawei, vỏ màu xanh, có số IMEI 1: 868290033110170, số IMEI2: 868290033177435, bên trong không lắp sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Huawei, vỏ màu xanh, có số IMEI 1: 865925048687042, số IMEI 2: 865925048699013, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0814.058.xxx, trên sim có dãy số 89840200011435053044; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu bạc, có số IMEI1: 863513031749334, số IMEI2: 863513031749326, bên trong không lắp sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, vỏ màu trắng, có số IMEI1: 861997041598116, số IMEI2: 861997041598124, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone trên sim có dãy số 89840200011492966625; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, vỏ màu đen, có số IMEI1: 861997046224072, số IMEI2: 861997046224080, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone trên sim có dãy số 89840200011435053028; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, vỏ màu đen, có số IMEI1: 862756042207997, số IMEI2: 862756042208003, bên trong lắp 01 sim điện thoại Viettel số 84374440183, trên sim có dãy số 8984048000326507238; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, vỏ màu trắng, có số IMEI1: 867252032428293, số IMEI2: 867252032428301, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0816.058.xxx, trên sim có dãy số 89840200011435053093; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, vỏ màu đen, có số IMEI1: 865262040422073, số IMEI2: 865262040422081, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0819.602.xxx, trên sim có dãy số 89840200011496547306; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, vỏ màu xanh, có số IMEI1: 861997041595393, số IMEI2: 861997041595401, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0817.682.xxx,89840200011435052988; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu đen, có số IMEI1: 867679067316144/78, số IMEI2: 867679067316151/78, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0859.527.xxx, trên sim có dãy số 89840200011493001554; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu đen, có số IMEI1: 867679067332521/78, số IMEI2: 867679067332539/78, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0814.870.xxx, trên sim có dãy số 89840200011435053069; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu xanh xám, có số IMEI1: 862288062138647/78, số IMEI2: 862288062138654/78, bên trong lăp 01 sim điện thoại Vinaphone số 0817.654.xxx, trên sim có dãy số 89840200011449672482; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu đen, có số IMEI 1: 865834056726504/78, số IMEI 2: 865834056726512/78, bên trong không lắp sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu tím, bên trong lắp 01 sim điện thoại Vinaphone có dãy số 89840200011285522692; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu hồng nhạt, bên trong không lắp sim điện thoại.
- 02 (hai) laptop nhãn hiệu dell màu bạc;
- 03 (ba) cây máy tính nhãn hiệu Xigmatek màu đen kèm theo 03 màn hình nhãn hiệu Samsung, 03 chuột và bàn phím hiệu Fulen, dây cắm nguồn của 03 máy tính.
- 02 USB Kingston 16GB
- 04 (bốn) thẻ sim điện thoại gồm: 01 sim điện thoại Vinaphone có dãy số 89840200011449672490;01 sim điện thoại Viettel có dãy số 898404800326507384; 01 sim điện thoại 5G Z169-HB có dãy số 11223542080080029977; 01 sim điện thoại có dãy số 8986112234772695301B.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 06/QĐ-VKS-P1 ngày 27/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang và Lệnh nhập kho vật chứng số 102/LNK-ANĐT ngày 25/01/2024 của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh B)
2.3 Trả lại bị cáo Từ Văn Luyện: 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Từ Văn L; 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Từ Văn H4.
2.4. Buộc bị cáo Từ Văn L nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 28.000.000 đồng (bằng chữ: Hai mươi tám triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo Từ Văn L đã nộp đủ số tiền 28.000.000đồng theo biên lai thu tiền số 0000923 ngày 23/4/20240 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Từ Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Thị Luyện |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tổ chức cho người khác ở lại việt nam trái phép
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ Văn L phạm tội tổ chức cho người nước ngoài ở lại VN trái phép
