Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẾ SƠN

TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số: 39/2024/HS-ST.

Ngày: 28-11-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trương Thị Sen.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Tám.
  2. Ông Lương Văn Ánh.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Hồ Thu Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Hướng, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thanh K, sinh ngày 04/11/1993; nơi sinh: huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: thợ cơ khí; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1976; bị cáo có vợ là Hồ Thị L2, sinh năm 1993 và có 02 con, con lớn sinh năm 2016 và con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: ngày 23/9/2019 bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính số tiền 200.000 đồng về hành vi “Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác” tại Quyết định số 05/QĐ-XPHC. Bị cáo nộp phạt xong ngày 11/10/2019.

    Bị cáo bị tạm giữ ngày 25/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 04/7/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện Q.

  2. Đinh Văn H, sinh ngày 20/5/1994; nơi sinh: huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn N, sinh năm 1957 và bà Lê Thị E, sinh năm 1962; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị tạm giữ ngày 25/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 04/7/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện Q.

  3. Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 06/8/1987; nơi sinh: huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Phan Thị N1, sinh năm 1964; bị cáo có vợ là Lê Thị Hoài P, sinh năm 1986 và có 02 con, con lớn sinh năm 2010 và con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: ngày 22/10/2018 bị Đồn Công an H1, huyện Q xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép” tại Quyết định số 129/QĐ-XPHC. Bị cáo nộp phạt xong ngày 24/10/2018.

    Bị cáo bị tạm giữ ngày 25/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 04/7/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện Q.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Lê Thị Minh P1, sinh năm 1974. Địa chỉ: 9 T, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng.

  • + Chị Đinh Thị Kim A, sinh năm 1986. Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.

  • + Anh Lê Thanh B, sinh năm 1981. Địa chỉ: thôn N, xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.

  • + Anh Lê Hoàng V, sinh năm 1987. Địa chỉ: tổ dân phố H, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.

Tại phiên tòa, các bị cáo có mặt; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 24/6/2024, bị cáo K đang ở nhà mình thì bị cáo H điều khiển xe môtô biển số 92G1-265.36 đến nhà K chơi. Bị cáo H nói với bị cáo K nghiên cứu kiếm xí (tức là kiếm ma túy về sử dụng) thì K nói không có tiền, bị cáo H nói để H nghiên cứu cầm điện thoại lấy tiền mua ma túy về sử dụng. Bị cáo H điện thoại cho bị cáo T đến nhà bị cáo K để đi cầm điện thoại giúp. Một lát sau, bị cáo T đến nhà bị cáo K, bị cáo H đưa điện thoại Iphone 11 của mình cho bị cáo T, bảo bị cáo T đi cầm lấy số tiền 1.000.000 đồng, trả nợ cho vợ bị cáo T 200.000 đồng, số tiền còn lại 800.000 đồng thì chuyển vào tài khoản Momo của bị cáo H là 0973747994. Bị cáo T đồng ý rồi điều khiển xe 43K5-2426 của mình đi đến cửa hàng điện thoại di động Hoàng V tại thị trấn H do anh Lê Hoàng V làm chủ để cầm điện thoại. Bị cáo T đưa điện thoại iphone 11 cho anh V nói cầm lấy số tiền 1.000.000 đồng. Bị cáo T yêu cầu anh V đưa cho bị cáo T 200.000 đồng tiền mặt, số tiền còn lại là 790.000 đồng (đã trừ 10.000 đồng phí chuyển tiền) chuyển vào tài khoản momo 0973747994 cho bị cáo H. Sau khi cầm điện thoại xong, bị cáo T về lại nhà của bị cáo K thông báo là đã cầm điện thoại và chuyển tiền cho bị cáo H. Lúc này, bị cáo H mượn điện thoại của bị cáo K để đăng nhập vào tài khoản momo của mình và chuyển vào tài khoản momo của bị cáo K có số điện thoại 0795.505.xxx số tiền 500.000 đồng để bị cáo K đi mua ma túy. Bị cáo K sử dụng Messenger trên ứng dụng Facebook “Nguyen Thanh Kl” gọi cho M có tên “Hung Duong” để hỏi mua 500.000 đồng ma túy thì người này đồng ý và hẹn bị cáo K đến khu vực cầu M (hướng T). Bị cáo K điều khiển xe biển số 43K5-2426 của bị cáo T đi đến khu vực cầu mới Hương A1 đứng đợi, khoảng 05 phút sau thì có một người thanh niên đi xe Ware (không rõ biển số) đến và ném gói ma túy đá xuống bên cạnh bị cáo K, bị cáo K đưa cho người này 500.000 đồng rồi nhặt gói ma túy lên cất giấu vào người và điều khiển xe về nhà. Khi về đến nhà, bị cáo K đi vào trong phòng ngủ của mình thì thấy bị cáo H và T đang ngồi, bị cáo K để gói ma túy xuống đất trước mặt bị cáo T và H rồi đi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá để ở góc phòng ngủ đem ra để bên cạnh gói ma túy. Lúc này, bị cáo T lấy gói ma túy đổ vào nỏ thủy tinh trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, dùng bật lửa đốt ma túy lên, vừa đốt ma túy vừa đưa cho bị cáo K sử dụng trước rồi đến lượt bị cáo T tự đốt ma túy cho mình sử dụng, sau đó bị cáo T đốt ma túy và đưa cho bị cáo H sử dụng. Tiếp tục, bị cáo T đốt ma túy cho K, T, H lần lượt sử dụng. Khi đang sử dụng thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện lập biên bản.

Tại biên bản xét nghiệm ma túy ngày 24/6/2024 đối với các bị cáo K, T, H, kết quả cả ba đều dương tính với ma túy.

Quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của mình.

Tại Kết luận giám định số 371/KL-KTHS ngày 03/7/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q kết luận: chất rắn màu trắng bám dính bên trong một đoạn ống thủy tinh dài 3,4cm gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Do lượng mẫu bám dính trên vật mang quá ít nên không thể xác định được khối lượng của vật mẫu.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 vỏ chai bằng nhựa có nắp màu trắng, trên nắp có gắn một ống nhựa màu đỏ trắng và một ống thủy tinh; 01 tờ giấy bạc kích thước 7,8cmx3,5cm; 01 ống thủy tinh dài 3,4cm trên thành ống có bám dính chất rắn màu trắng; 01 bật lửa màu xanh bên trên có gắn lò xo và quấn giấy bạc; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50 bên trong có gắn sim số 0795505971; 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1723 bị vỡ màn hình, bên trong có 02 sim số 0935674400 và 0702566080; 01điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu trắng; 01 xe môtô biển số 92G1-265.36; 01 xe môtô biển số 43K5 -2426; số tiền 200.000 đồng.

Cáo trạng số 42/CT-VKSQS ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh K, Đinh Văn H và Nguyễn Ngọc T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo K từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù; bị cáo H và T mỗi bị cáo từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không trình bày lời bào chữa và không tham gia tranh luận gì.

Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo đều nhận thức hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm có điều kiện trở về hòa nhập cộng đồng, phấn đấu thành công dân tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đối chiếu với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:

Vào ngày 24/6/2024, tại nhà của bị cáo K thuộc thôn P, xã Q, huyện Q; bị cáo H là người rủ rê, cung cấp tiền để bị cáo K đi mua ma túy; bị cáo K là người trực tiếp đi mua ma tuý, chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, địa điểm sử dụng ma tuý; bị cáo T là người đã lấy ma túy đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi đốt ma tuý cho K, H, T cùng nhau sử dụng. Hành vi của các bị cáo K, H, T đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Cáo trạng số 42/CT-VKSQS ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội: ma túy là chất gây nghiện có hại cho sức khỏe con người, sử dụng ma tuý là một trong những tệ nạn nguy hiểm nhất trong xã hội. Khi sử dụng chất ma túy sẽ làm cho con người có nhận thức lệch lạc, mơ hồ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần, là tác nhân gây ra các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo đủ khả năng để nhận thức mọi hành vi sử dụng và rủ rê người khác cùng sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp quy định của pháp luật để thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân. Hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng; riêng bị cáo K và T có nhân thân xấu. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Nhưng nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Trong vụ án này, bị cáo H là người rủ rê, cung cấp tiền để bị cáo K đi mua ma túy; bị cáo K là người trực tiếp đi mua ma tuý, chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, địa điểm sử dụng ma tuý nên các bị cáo H, K phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo T.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Các bị cáo có công việc nhưng thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về hành vi của những người có liên quan đến vụ án:

  • - Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo K: bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, chỉ biết người này có tên facebook là “HungDuong”. Sau khi mua ma túy xong, bị cáo K đã hủy kết bạn và xóa tin nhắn nên không đủ cơ sở xác minh.

  • - Đối với hành vi cầm cố tài sản của anh Lê Hoàng V: lúc cầm điện thoại Iphone 11 của bị cáo H, anh V không biết mục đích là để lấy tiền mua ma túy sử dụng nên không có cơ sở xử lý.

  • - Đối với xe mô tô biển số 92G1-265.36 bị cáo H sử dụng: xe này do chị Đinh Thị Kim A (chị ruột của H) đứng tên chủ sở hữu, hiện nay chị A đang đi làm xa để xe mô tô ở nhà, bị cáo H tự ý sử dụng làm phương tiện đi lại nên không có căn cứ để xử lý.

  • - Đối với xe mô tô biển số 43K5-2426 mà bị cáo K sử dụng để đi mua ma túy: do anh Lê Thanh B là anh vợ của bị cáo T mua cho vợ chồng bị cáo T sử dụng. Bị cáo T không biết việc bị cáo K mượn xe mô tô này để đi mua ma túy nên không có căn cứ xử lý.

[7] Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 vỏ chai bằng nhựa có nắp màu trắng, trên nắp có gắn một ống nhựa màu đỏ trắng và một ống thủy tinh; 01 tờ giấy bạc kích thước 7,8cmx3,5cm; 01 ống thủy tinh dài 3,4cm trên thành ống có bám dính chất rắn màu trắng; 01 bật lửa màu xanh bên trên có gắn lò xo và quấn giấy bạc, đây là công cụ các bị cáo dùng để sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50 bên trong có gắn sim số 0795505971 của bị cáo K sử dụng để liên hệ mua ma túy, là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1723 bị vỡ màn hình, bên trong có 02 sim số 0935674400, 0702566080 và 01 xe môtô biển số 43K5 -2426 của bị cáo T do không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu trắng của bị cáo H do không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

  • - Trả lại cho chị Đinh Thị Kim A 01 xe môtô biển số 92G1-265.36.

  • - Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000 đồng của bị cáo T để đảm bảo thi hành án.

[8] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Thanh K, Đinh Văn H và Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  2. Xử phạt:

    • - Bị cáo Nguyễn Thanh K 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (25/6/2024).

    • - Bị cáo Đinh Văn H 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (25/6/2024).

    • - Bị cáo Nguyễn Ngọc T 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (25/6/2024).

  3. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 vỏ chai bằng nhựa có nắp màu trắng, trên nắp có gắn một ống nhựa màu đỏ trắng và một ống thủy tinh; 01 tờ giấy bạc kích thước 7,8cmx3,5cm; 01 ống thủy tinh dài 3,4cm trên thành ống có bám dính chất rắn màu trắng; 01 bật lửa màu xanh bên trên có gắn lò xo và quấn giấy bạc.

    • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50 bên trong có gắn sim số 0795505971 của bị cáo K.

    • - Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1723 bị vỡ màn hình, bên trong có 02 sim số 0935674400, 0702566080 và 01 xe môtô biển số 43K5 - 2426; trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu trắng.

    • - Trả lại cho chị Đinh Thị Kim A 01 xe môtô biển số 92G1-265.36;

    • - Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng của bị cáo T để đảm bảo thi hành án.

    (Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/11/2024. Riêng số tiền 200.000 đồng đang tạm gửi tại Kho bạc nhà nước Q theo giấy nộp tiền ngày 21/8/2024 và uỷ nhiệm chi ngày 22/11/2024).

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

  5. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14-9-2024). Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND huyện Quế Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Quế Sơn;
  • - Văn phòng Công an huyện Quế Sơn;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Quế Sơn;
  • - Bộ phận HSNV CA huyện Quế Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Bị cáo, người TGTT khác;
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra 1;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Sen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh K cùng đồng phạm phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger