TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày: 18/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Bùi Đình Thông
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Chương và ông Lê Như Long.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Na – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà: Đậu Thị Hiền Trang - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Anh T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 03 tháng 6 năm 1985; Trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Minh T1 (Đã chết), Con bà: Võ Thị T2; Vợ: Nguyễn Thị Thúy V; Con: Có 02 người, đứa lớn sinh năm 2013, đứa nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 06/12/2013, bị Công an huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy”; Ngày 14/7/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt (đã được xóa án tích); Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Đức C, sinh năm: 1998; Nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
- Anh Phạm Văn S, sinh năm: 1999; Nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1978; Nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Thúy V, sinh năm: 1991; Nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt).
Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Đức V1, sinh năm: 1948; Nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
- Ông Phan Văn Ấ, sinh năm 1968; Nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 7/2024, Nguyễn Anh T đi xe buýt lên khu vực trung tâm thương mại ở thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh gặp một người đàn ông T khai tên là N1 (do T quen biết từ trước) hỏi mua của người đàn ông này 50 viên ma túy với giá 3.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T đi về nhà, lấy 03 viên ma túy ra sử dụng, còn 47 viên ma túy T cất giấu trong túi da màu đen mà T thường dùng đi làm để bán lại kiếm lời. Từ ngày 03/7/2024 đến ngày 05/7/2024, T đã 02 lần bán ma túy cho Lê Đức C và Phạm Văn S, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/7/2024, do có nhu cầu mua ma túy sử dụng nên Lê Đức C đăng nhập tài khoản Zalo “Lê Chính” của mình gọi vào tài khoản Z “NAT” của T nói: Tối anh về nhà không, để cho em 1.000.000 đồng ma túy, T nói: Có gì về anh gọi. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T về nhà thì C gọi điện thoại qua ứng dụng Z nói: Anh đã về chưa, T nói: Về rồi, lấy mấy thì chuyển khoản. Chính nói: Em chỉ có tiền mặt, T nói: Em lên nhà anh đi. Lúc này, T lấy 12 viên ma túy từ túi da màu đen cho vào một túi nilong màu trắng, rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave an pha, sơn màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 38D1-284.15 đi đến trước khu vực nghĩa trang B thuộc tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, để gói ma túy nói trên ở cây si cạnh đó, rồi đứng đợi C. Còn C sau khi liên lạc được với T đã nhờ Phạm Văn S chở lên thị trấn Đ, huyện Đ để gặp T, S đồng ý. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến cổng bệnh viện Đ, C bảo S đứng đợi, còn C đi bộ vào khu vực nghĩa trang B gặp T. Lúc này, C đưa cho T số tiền 1.000.000 đồng, T chỉ vị trí để gói ma túy cho C rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Sau khi mua được ma túy, C giấu ma túy vào túi quần, đi đến chỗ S đứng đợi rồi bảo S chở mình về nhà, rồi S ra về. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày C lấy 01 chai nhựa có sẵn tại nhà mình, dùng bật lửa đốt 01 lỗ ở thân chai và sử dụng tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng cuộn tròn lại gắn vào lỗ tự chế, sau đó mang theo chai nhựa nói trên đi ra khu vực nghĩa trang thuộc thôn Đ, xã L, huyện Đ để sử dụng số ma túy vừa mua. Đến khoảng 01 giờ ngày 04/7/2024, khi C vừa sử dụng hết số ma túy trên thì bị Cơ quan Công an huyện Đ phát hiện, bắt giữ. Thu giữ từ Chính 01 chai nhựa ở giữa thân chai có gắn tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, cuộn tròn; 01 bật lửa gas màu đỏ đã qua sử dụng và 01 túi nilong trong suốt.
Lần thứ hai: Vào khoảng 21 giờ ngày 05/7/2024, do có nhu cầu mua ma túy sử dụng, Phạm Văn S sử dụng điện thoại di động, sim số 0844.322.526 của mình gọi điện đến số điện thoại 0836.584.xxx của T nói: Em S bạn C, anh có ma túy không để cho em 1.000.000 đồng, thì T nói: Ừ, có. S nói: Bây giờ chuyển khoản hay trả tiền mặt anh, T nói: Chuyển khoản. Lúc này, S đi đến quán tạp hóa của chị Nguyễn Thị N nhờ chị N chuyển khoản số tiền 1.000.000 đồng vào số tài khoản 0201000601884 ngân hàng V2 của T (số tài khoản do S xin của C từ trước). Sau khi trừ 10.000 đồng phí chuyển tiền, chị N chuyển số tiền 990.000 đồng vào số tài khoản mà S cung cấp rồi chụp hóa đơn chuyển tiền gửi cho S. Sau đó, S gửi hình ảnh hóa đơn chuyển tiền vào số điện thoại của T kèm nội dung: Em S bạn C mới chuyển tiền đó anh. Sau khi nhận được tin nhắn của S, T lấy 17 viên ma túy trong túi da màu đen cho vào 01 túi nilong trong suốt và lấy một chiếc phong bao lì xì màu đỏ gói lại giấu trong người, rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38D1-284.15 đi đến khu vực bệnh viện Đ thuộc tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện Đ. Lúc này, T xuống xe đi đến chân cột cổng chào để phong bao lì xì chứa ma túy ở đó, rồi gọi điện cho S nói: Em chạy lại cổng chào qua bệnh viện Đ, phía bên tay trái dưới chân cột cổng chào có bao lì xì. S điều khiển xe mô tô lên khu vực bệnh viện Đ làm theo chỉ dẫn của T thì lấy được ma túy, rồi đi về nhà. Khi đi đến khu vực Cầu Đ, S dừng lại kiểm tra thấy đúng số lượng ma túy mình đã mua nên cất vào túi quần, đi về nhà. Đến khoảng 22 giờ 15 phút sau khi cất xe mô tô, S lấy một chai nhựa ở giữa có gắn tờ tiền mệnh giá 1000 đồng cuộn tròn và đi bộ ra khu vực trạm bơm thuộc thôn Đ, xã A, huyện Đ để sử dụng. Khi mở túi nilong, S làm rơi 15 viên ma túy xuống mương nước của trạm bơm, còn 02 viên ma túy S lần lượt sử dụng hết. Đến khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày, S bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phát hiện, bắt giữ. Thu giữ từ S 01 chai nhựa trong suốt ở giữa thân chai có gắn tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng cuộn tròn; 01 bật lửa gas màu đỏ đã qua sử dụng; 01 túi nilong trong suốt màu trắng, không rõ hình dạng và 01 bao lì xì màu đỏ dán băng dính màu đen.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Đức C và Phạm Văn S đều khai nhận số ma túy vừa sử dụng là mua của Nguyễn Anh T.
Đến 13 giờ ngày 06/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Anh T tại tổ dân phố Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra thu giữ 01 chiếc túi da màu đen kích thước (10x13x22)cm, gắn dây đeo màu đen dài 140cm, bên trong túi có: 01 thẻ ATM ngân hàng V2; 01 thẻ ATM ngân hàng A, đều mang tên Nguyễn Anh T; 01 túi nilong màu trắng, kích thước (5x5)cm ở các mép được dán kín, bên trong túi có 18 viên nén màu hồng, bên trên bề mặt mỗi viên nén có kí hiệu WY; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu vàng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A15, màu trắng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của T, Cơ quan điều tra thu giữ 01 túi nilon màu xanh, kích thước (6,5x8,5)cm; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng được cuộn tròn, bên ngoài quấn băng dán màu đen.
Tại bản Kết luận giám định ma túy số 927/KL-KTHS ngày 09/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: 18 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên nén có kí hiệu WY chứa trong một túi nilong màu trắng kích thước (5x5)cm gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,8469 gam
Số ma túy nói trên, Nguyễn Anh T khai nhận mua về để bán cho người khác kiếm lời.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 247 ban hành kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Công an xã L ngày 04/7/2024 đối với Lê Đức C, xác định: Lê Đức C dương tính với chất ma túy Methamphetamine.
Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Công an xã T Thịnh ngày 06/7/2024 đối với Phạm Văn S, xác định: Phạm Văn Sơn dương tính với chất ma túy Methamphetamine.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
01 phong bì thư màu trắng, có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH, PHÒNG KỶ THUẬT HÌNH SỰ” dán kín, niêm phong, bên trong có 01 túi nilong trong suốt, bên trong có 1,5351 gam Methamphetamine (khối lượng ma túy còn lại sau khi lấy mẫu giám định) cùng vỏ phong bì thư đã được mở niêm phong, vỏ bao gói ban đầu; 01 chiếc túi da màu đen kích thước (10x13x22)cm, gắn dây đeo màu đen dài 140cm, bên trong túi có: 01 thẻ ATM ngân hàng V2, số thẻ 9704368605989869011; 01 thẻ ATM ngân hàng A, số thẻ 9704053081660242, đều mang tên Nguyễn Anh T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu vàng, số Imei 353102102272421, sim số 0836.584.157; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A15, màu trắng, Imei 865613056013299, sim số 0948.470.738.
(Đều thu giữ trong quá trình giữ người trong trường hợp khẩn cấp).
01 chiếc bật lửa màu đỏ; 01 túi nilong, màu xanh, kích thước (6,5x8,5)cm; 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng được cuộn tròn, bên ngoài quấn băng dán màu đen (Đều thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của T).
01 chai nhựa ở giữa thân chai có gắn tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, cuộn tròn; 01 bật lửa gas màu đỏ đã qua sử dụng và 01 túi nilong trong suốt, không rõ hình dạng, kích thước (Thu giữ từ Lê Đức C).
01 chai nhựa trong suốt, ở giữa thân chao có gắn tờ tiền mệnh giá 1000 đồng, cuộn tròn; 01 chiếc bật lửa bằng nhựa màu đỏ; 01 túi nilong trong suốt, không rõ hình dạng, kích thước; 01 vỏ bao lì xì màu đỏ, có dán băng dính màu đen, kích thước (11x8)cm (Đều thu giữ từ Phạm Văn S).
01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave anpha, màu xanh đen, biển kiểm soát 38D1-284.15 (Thu giữ từ chị Nguyễn Thị Thúy V).
Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave anpha, màu xanh đen, biển kiểm soát 38D1-284.15 là của chị Nguyễn Thị Thúy V (là vợ của Nguyễn Anh T), việc T sử dụng chiếc xe làm phương tiện đi bán ma túy chị V không biết, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định. Còn các vật chứng khác đã thu giữ là những công cụ, phương tiện bị cáo, người liên quan sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Các vật chứng nói trên hiện đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Thọ để xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số: 40/CT-VKS-ĐT ngày 18 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ đã truy tố Nguyễn Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát viên vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam 06/7/2024. Đề nghị xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt không có ý kiến gì tranh luận, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Hà tĩnh; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức thọ, tỉnh Hà tĩnh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng và hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến nhưng họ đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không làm cản trở việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định xét xử vụ án.
[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận về hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu và thừa nhận trong quá trình hỏi cung đều được tự nguyện khai báo, không bị bức cung, mớm cung hay nhục hình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, các lời khai và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Trong khoảng thời gian từ ngày 03/7/2024 đến ngày 05/7/2024, tại tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Anh T đã 02 lần có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lê Đức C và Phạm Văn S. T2 lợi bất chính số tiền 1.990.000 đồng. Đến 13 giờ ngày 06/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Anh T ở tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh thu giữ 1,8469 gam ma túy, loại Methamphetamine mà Nguyễn Anh T tàng trữ nhằm mục đích bán cho người khác.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các chứng cứ, lời khai thu thập được đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, kết hợp với lời khai nhận tội của bị cáo Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Nguyễn Anh T đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lê Đức C và Phạm Văn S, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2, điều 251 Bộ luật hình sự. Vì vậy, việc truy tố và xét xử bị cáo theo điểm, khoản, tội danh và điều luật nêu trên là đúng người đúng tội, không oan sai. Bản cáo trạng số 40/CT-VKS-ĐT ngày 18 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn chính xác. Tại phiên tòa lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá đầy đủ tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo cũng như các vấn đề khác về cơ bản là phù hợp.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma tuý là một độc dược, làm huỷ hoại sức khoẻ, thoái hoá nhân cách, ảnh hưởng đến giống nòi, ma tuý còn là nơi bắt nguồn cho các loại tội phạm khác nên pháp luật đã nghiêm cấm tàng trữ, vận chuyển, mua bán, tệ nạn ma túy đang là điều nhức nhối của toàn xã hội, nhà nước ta đã có rất nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn và xóa bỏ ma túy ra khỏi cộng đồng. Hành vi mua bán ma túy của bị cáo là hành vi góp phần làm cho tệ nạn xã hội ngày càng phát triển. Bản thân bị cáo đã từng bị xét xử, nhưng vẫn không chịu lấy đó làm bài học cảnh tỉnh bản thân, tu chí làm ăn chân chính mà lại thực hiện việc mua bán ma túy. Mặc dù biết được việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi nên bị cáo đã bất chấp pháp luật, mua bán ma túy. Vì vậy, cần phải xử phạt thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và ngăn chặn, phòng ngừa chung. Bị cáo hiện đang bị tạm giam, để đảm bảo cho công tác thi hành án cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo.
[5] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Vì vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra ông của bị cáo là ông Nguyễn H được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, huy hiệu 45 năm tuổi đảng và sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động nhờ vợ nộp thay số tiền thu lợi bất chính, vì vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tội phạm ma túy là một loại tội phạm hết sức nguy hiểm. Hội đồng xét xử xét thấy lẽ ra ngoài hình phạt chính cần xử phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không xử phạt tiền đối với bị cáo.
Trong vụ án này, ngày 03/7/2024, Phạm Văn S là người chở Lê Đức C đi mua ma túy, nhưng S không biết mục đích C đi lên thị trấn Đ, huyện Đ là để mua ma túy và quá trình Chính giao dịch mua bán ma túy với T, S không biết, không chứng kiến, nên hành vi của T không thuộc tình tiết định khung phạm tội “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đối với Lê Đức C và Phạm Văn S là những người mua ma túy của Nguyễn Anh T để sử dụng. Tuy nhiên, tại thời điểm Cơ quan CSĐT phát hiện, bắt giữ thì C và S đã sử dụng hết số ma túy đã mua nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với C và S về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Lê Đức C và Phạm Văn S theo quy định.
Đối với chị Nguyễn Thị Thúy V là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave anpha, màu xanh đen, biển kiểm soát 38D1-284.15 nhưng chị V không biết T sử dụng chiếc xe làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Cũng như chị Nguyễn Thị Nghĩa L người S nhờ chuyển tiền cho T để mua ma túy nhưng chị N không biết, nên chị Nguyễn Thị Thúy V và chị Nguyễn Thị N đều không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Còn đối với người đàn ông tên N1 ở thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh mà Nguyễn Anh T khai là những người đã bán ma túy cho mình, do còn thiếu thông tin, nên chưa có căn cứ điều tra, xử lý.
[6] Về vật chứng vụ án: Cần áp dụng các quy định của pháp luật xử lý số vật chứng đang có tại cơ quan thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh đúng theo quy định của pháp luật. Cụ thể: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 03 tờ tiền (01 tờ 2000đ và 02 tờ 1000₫) mà bị cáo, người liên quan sử dụng làm công cụ phạm tội (quấn vào chai nước để sử dụng ma túy); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu vàng, số Imei 353102102272421, sim số 0836.584.157; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A15, màu trắng, Imei 865613056013299, sim số 0948.470.738. Bị cáo đã sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Các vật chứng còn lại là những công cụ, phương tiện bị cáo, người liên quan sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Xét không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Trong vụ án này, bị cáo còn thu lợi bất chính 1.990.000 đồng tiền bán ma túy cho Lê Đức C và Phạm Văn S, nhưng vào ngày 22/10/2024 vợ của bị cáo đã thay bị cáo nộp khoản tiền này tại Cơ quan thi hành án huyện Đ theo biên lai thu tiền số 0005022. Vì vậy, cần áp dụng các quy định của pháp luật, tịch thu số tiền này để sung công quỹ Nhà nước.
[7] Bị cáo là hộ cận nghèo nên theo quy định của pháp luật không phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
[2] Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Anh T 07 năm 06 tháng tù. Thời gian thi hành án tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam 06/7/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án.
[3] Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 4.000 đồng (01 tờ 2.000đ và 02 tờ 1.000đ); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu vàng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A15, màu trắng; Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư màu trắng, có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH, PHÒNG KỶ THUẬT HÌNH SỰ” dán kín, niêm phong, bên trong có 01 túi nilong trong suốt, bên trong có 1,5351 gam Methamphetamine (khối lượng ma túy còn lại sau khi lấy mẫu giám định) cùng vỏ phong bì thư đã được mở niêm phong, vỏ bao gói ban đầu; 01 chiếc túi da màu đen kích thước (10x13x22)cm, gắn dây đeo màu đen dài 140cm, bên trong túi có: 01 thẻ ATM ngân hàng V2, số thẻ 9704368605989869011; 01 thẻ ATM ngân hàng A, số thẻ 9704053081660242, đều mang tên Nguyễn Anh T; 01 chiếc bật lửa màu đỏ; 01 túi nilong, màu xanh, kích thước (6,5x8,5)cm; 02 chai nhựa; 01 bật lửa gas màu đỏ đã qua sử dụng và 01 túi nilong trong suốt, không rõ hình dạng, kích thước; 01 chiếc bật lửa bằng nhựa màu đỏ; 01 túi nilong trong suốt, không rõ hình dạng, kích thước; 01 vỏ bao lì xì màu đỏ, có dán băng dính màu đen, kích thước (11x8)cm.
Tình trạng đặc điểm cụ thể của các vật chứng có trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2024 giữa Cơ quan điều tra và chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Thọ, tỉnh Hà tĩnh.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 1.990.000 đồng (số tiền này vợ của bị cáo đã thay bị cáo nộp tại Cơ quan thi hành án huyện Đ theo biên lai thu tiền số 0005022 ngày 22/10/2024).
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Đình Thông |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
