Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày 30 – 10 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Qui – Nguyên là Trưởng phòng giáo dục và đào tạo thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
  2. Bà Trương Thị Hằng – Phó trưởng phòng Giáo dục và đào tạo thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Thuận - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Thạch Chế T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 18/01/2008; tính đến thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản Thạch Chế T 16 năm 06 tháng 05 ngày tuổi; nơi sinh: Huyện P, tỉnh Hậu Giang. Nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Không (học sinh); trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Khơ - me; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch T1 và bà Lý Lệ H; Bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: không: Bị cáo Thạch Chế T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 16/7/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Thạch T1, sinh năm 1981 và bà Lý Lệ H, sinh năm 1981 (có mặt).

Cùng nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Huỳnh Cao C – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H (có mặt).

Địa chỉ: Số B đường N, Phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

- Bị hại: Trương Gia H1, sinh ngày 23/7/2007 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trương Thanh D (vắng mặt) và bà Liêu Thị Bích C1 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Trương Anh K, sinh năm 2008 (vắng mặt).
  2. Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

    Người đại diện hợp pháp của Trương Anh K: Ông Trương Văn V và bà Từ Hồng D1 (vắng mặt).

    Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

  3. Trương Thanh T2, sinh năm 1998 (vắng mặt).
  4. Nơi cư trú: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

- Người tham gia tố tụng khác: Đại diện nhà trường nơi bị cáo và bị hại học tập: Ông Nguyễn Mậu Q – Giáo viên Trường Phổ thông dân tộc Nội trú tỉnh H; nơi cư trú: Khu V, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 8 giờ 15 phút ngày 08/4/2024, Công an phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang tiếp nhận thông tin vụ việc mất trộm tài sản của em Trương Gia H1, là học sinh lớp 10A1 Trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Hậu Giang tọa lạc tại khu vực B, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang với nội dung sau: Thời gian từ 16 đến 17 giờ một ngày đầu tháng 03/2024 (không nhớ rõ ngày giờ cụ thể), sau khi học xong về phòng số 18 ký túc xá của trường thì H1 lắp sạc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu xanh trong phòng, rồi cùng chơi với những người bạn. Đến 18 giờ cùng ngày thì H1 phát hiện mất điện thoại trên nên sau đó đã trình báo đến Ban Giám hiệu nhà trường.

Nhận được tin báo, Công an phường V đã mời Thạch Chế T và Trương Anh K làm việc, tại đây cả hai đã khai nhận hành vi lấy trộm chiếc điện thoại của H1. Cụ thể:

Khoảng 16 giờ ngày 07/3/2024, T cùng K từ phòng số 3 lên phòng số 18 ký túc xá của T3 chơi với H1 và bạn cùng phòng. Khi đang chơi thì K nhìn thấy điện thoại của H1 đang sạc pin trên giường kế bên nên K kêu T đi ra ngoài trước cửa sổ phòng gần cầu thang và rủ T lấy trộm chiếc điện thoại của H1, T đồng ý và nói với K "mầy lấy được thì lấy đi". T và K trở vào phòng. Trong lúc T và mấy bạn cùng phòng ra chơi ở khu phía sau của phòng, T không biết K lấy điện thoại của H1 mang ra ngoài lúc nào. Khi T thấy K từ ngoài đi vào phòng nói với T đã lấy điện thoại của H1 rồi thì T mới biết. Tiếp tục chơi khoảng 10 phút thì H1 phát hiện mất điện thoại nên tìm kiếm xung quanh phòng, T và K cùng tìm giúp H1 nhưng không gặp nên T và K ra về. Cả hai đi đến hộp đựng bình chữa cháy gần cầu thang thì K kêu T mở hộp ra lấy điện thoại (khi lấy trộm điện thoại xong thì K đem giấu ở đây), T mở hộp ra lấy điện thoại cầm trên tay đi xuống hết cầu thang thì K kêu T ra xe trước, K đi lấy chìa khóa ra sau. T đưa điện thoại cho K cất giấu vào trong cốp xe của K, cả hai về phòng khoảng 10 phút thì H1 xuống phòng tìm điện thoại. Sau khi tìm xung quanh phòng và kêu T với K mở cặp đựng đồ dùng học tập ra để kiểm tra nhưng không có, H1 về phòng. Sau khi tắm xong khoảng 18 giờ cùng ngày, K lấy xe của mình chở T đi hướng chợ thị xã L bán điện thoại. Đi một đoạn ghé vào đổ xăng, K lấy điện thoại ra giữ, đổ xăng xong thì T chạy xe chở K tiếp tục đi đến chợ thị xã L chạy lòng vòng, T ghé tiệm điện thoại “Trọng Trình”, thì K mang chiếc điện thoại vào gặp ông Trương Thanh T2 chủ cơ sở điện thoại Trọng Trình, địa chỉ: khu V, phường T, thị xã L trao đổi mua bán với số tiền là 2.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận K kêu T nhận số tiền 2.000.000 đồng, nhận tiền xong T chở K về. Trên đường đi, T vừa chạy xe vừa lấy ra chia cho K 1.000.000 đồng, T giữ lại 1.000.000 đồng rồi cả hai cùng về ký túc xá.

Số tiền có được T trả cho bạn học cùng lớp 85.000 đồng, còn lại 915.000 đồng T sử dụng cùng với số tiền học bổng do trường phát mua điện thoại Iphone 6S giá 1.200.000 đồng, sau khi sử dụng một thời gian điện thoại bị hư, T bỏ điện thoại không còn sử dụng nữa đến nay.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 12/HĐĐGTS ngày 22/04/2024 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân thị xã L, tỉnh Hậu Giang đã kết luận: Tổng giá trị tài sản là: 2.874.000 đồng.

Tại cáo trạng số 43/CT-VKS-TXLM ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang đã truy tố bị cáo Thạch chế T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Thạch chế T về tội danh và điều luật như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: bị cáo Thạch chế T phạm tội: Trộm cắp tài sản.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 100 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Thạch Chế T mức án từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án được tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện P giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự đã được xem xét giải quyết xong trong giai đoạn điều tra nên không xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến tranh luận: Thống nhất quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị áp dụng thêm Điều 91 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Thạch Chế T mức hình phạt thấp nhất mà đại diện viện kiểm sát đã đề nghị.

Bị cáo không tranh luận chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện hợp pháp cho bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện hợp pháp cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố, điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã L; việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại Trương Gia H1, người đại diện hợp pháp cho bị hại ông Trương Thanh D, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Trương Anh K và người đại diện hợp pháp của Trương Anh K là ông Trương Văn V và bà Từ Hồng D1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Trương Thanh T2, đại diện Trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh H ông Nguyễn Mậu Q giáo viên chủ nhiệm. Việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng nêu trên không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người tham gia tố tụng nêu trên.

[3] Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chứng minh được: Khoảng 16 giờ ngày 07/3/2024, T cùng K từ phòng số 3 lên phòng số 18 ký túc xá của Trường P nội trú tỉnh Hậu Giang toạ lạc tại Khu V, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Trong lúc Trương Gia H1 đang chơi với bạn cùng phòng, K nhìn thấy điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu xanh trong phòng của H1 đang sạc pin trên giường nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên Trương Anh K rủ Thạch Chế T lấy trộm điện thoại của H1, T đồng ý và nói với K "mầy lấy được thì lấy đi" thể hiện ý thức của sự đồng thuận. T và K trở vào phòng. Kiệt lén lút lấy điện thoại của H1 mang ra ngoài giấu tại hộp đựng bình chữa cháy gần cầu thang. Sau đó K nói với T đã lấy điện thoại của H1 rồi. H1 phát hiện đện thoại bị mất, cả hai giả vờ cùng tìm điện thoại giúp huy nhưng không thấy. Sau đó cả hai đi đến nơi cất giấu lấy điện thoại ra về, đến khoảng 18 giờ cùng ngày, K lấy xe của mình chở T đi tìm nơi bán tài sản vừa trộm được với giá 2.000.000đồng và cả hai chia nhau mỗi người 1.000.000đồng và tiêu xài hết số tiền do bán điện thoại do trộm cắp mà có.

[4] Tại bản kết luận định giá tài sản số: 12/HĐĐGTS ngày 22/04/2024 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân thị xã L, tỉnh Hậu Giang đã kết luận: Tổng giá trị tài sản là: 2.874.000 đồng.

[5] Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Thạch Chế T có độ tuổi 16 năm 06 tháng 05 ngày tuổi. Đối chiếu hành vi của bị cáo Thạch Chế T thực hiện với quy định tại Điều 12, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự thì hành vi của bị cáo Thạch Chế T đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ đã truy tố bị cáo Thạch Chế T với tội danh và điều luật như Cáo trạng là có căn cứ, đúng người đúng tội. Đối với Trương Anh K là người chủ mưu, là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp, cùng đi bán tài sản và hưởng lợi ngang với bị cáo T từ việc trộm cắp tài sản mà có. Tuy nhiên, tính đến ngày thực hiện hành vi Trương Anh K chỉ 15 tuổi 10 tháng 29 ngày là chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ không truy tố Trương Anh K về tội Trộm cắp tài sản có căn cứ.

[6] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Thạch Chế T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nên cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe giáo dục bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tác động gia đình khắc phục hậu quả xong cho bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, bị cáo có thân nhân là người có công với cách mạng nên xem xét áp dụng điểm điểm b i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[8] Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, phạm tội nhất thời, khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên chưa nhận thức đầy đủ quy định pháp luật, khi phạm tội bị cáo đang học lớp 10 tại Trường P nội trú tỉnh Hậu Giang, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt nội quy, quy định của nhà trường, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, quy định của địa phương. Qua xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36, Điều 100 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương phối hợp với gia đình bị cáo giám sát, giáo dục bị cáo, như vậy cũng đủ răn đe đối với bị cáo, áp dụng chính sách khoan hồng, cho bị cáo có cơ hội ở bên ngoài để tự sửa chữa tu dưỡng bản thân thành công dân có ích cho xã hội. Do đó, có cơ sở chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo.

[9] Đối với Trương Anh K có hành vi rủ T lấy trộm điện thoại của H1 và là người trực tiếp lấy điện thoại, sau đó K cùng với T đem điện thoại đi bán chia nhau tiêu xài. Do K chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Công an thị xã L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K bằng hình thức Cảnh cáo là có căn cứ.

[10] Đối với ông Trương Thanh T2 là người trực tiếp mua điện thoại di động mà T và K mang đến bán, ông T2 không biết tài sản do trộm cắp mà có nên hành vi của ông T2 không đủ yếu tố cấu thành “Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã L không xử lý là có căn cứ.

[11] Về trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong trong giai đoạn điều tra xong, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì nên không xem xét.

[12] Về án phí: Do bị cáo thuộc diện hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên chấp nhận đề nghị của người bào chữa, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: bị cáo Thạch Chế T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 36, Điều 91, Điều 100; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[3] Xử phạt bị cáo Thạch Chế T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/10/2024.

[4] Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Thạch Chế T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Thạch Chế T trong thời gian chấp hành án.

[5] Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Thạch Chế T do bị cáo chưa đủ 18 tuổi.

[6] Người bị kết án cải tạo không giam giử phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong trong giai đoạn điều tra xong, bị hại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì nên không xem xét.

[8] Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thạch Chế T.

[9] Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt tại phiên tòa có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án ngày 30/10/2024. Đối với bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - Sở TP tỉnh HG;
  • - VKSND TX.Long Mỹ;
  • - Công an TX.Long Mỹ;
  • - CCTHADS TX.Long Mỹ;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 06 tháng cải tạo không giam giữ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger