TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HS-ST
Ngày 09 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Sách.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Thanh Hải.
Ông Trương Thanh Quang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Trinh Nhân - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/TLST-HS, ngày 21 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Huỳnh Hữu P, sinh ngày 28/4/2002, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nhiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Huỳnh Quốc B, sinh năm:………… (chết) và bà: Võ Thị G, sinh năm: 1980; Chưa có vợ, con; Tiền án: Chưa có; Tiền sự: Ngày 21/6/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 29/12/2022; Tạm giữ: Không; Tạm giam: ngày 24/4/2024. (Bị cáo có mặt)
- Phạm Minh C, sinh ngày 14/4/2004, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nhiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Văn K, sinh năm: 1982 (chết) và bà: Nguyễn Thị V, sinh năm: 1980; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Tạm giữ: Không; Tạm giam: ngày 23/4/2024. (Bị cáo có mặt)
- Võ Hồng T (tên gọi khác: L), sinh ngày 05/7/1987, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nhiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Võ Phùng X, sinh năm: 1964 và bà: Nguyễn Thị Như M, sinh năm: 1966; Chưa có vợ, con; Tiền sự: Chưa có; Tiền án: Ngày 18/5/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm kể từ ngày 18/5/2023 (chưa chấp hành xong) Tạm giữ: Không; Tạm giam: ngày 23/4/2024. (Bị cáo có mặt)
- Người làm chứng:
- Huỳnh Bảo T1, sinh năm: 2006; Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
- Nguyễn Văn K1, sinh năm 1954; Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
- Võ Thị G, sinh năm 1980; Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
- Trần Thị S, sinh năm 1942; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 07/3/2024, Phạm Minh C gọi điện thoại cho Huỳnh Hữu P, nhưng P không nghe máy. Khoảng 30 phút sau, C rủ và điều khiển xe mô tô biển số 66F6-3253 chở Võ Hồng T đến nhà P (Vào thời điểm xảy ra hành vi tội phạm do P trực tiếp quản lý) tại ấp L, xã L, huyện H nhằm mục đích sử dụng trái phép chất ma túy, T đồng ý. Tại đây, C hùn 150.000đồng và T hùn tiền 50.000đồng, tổng cộng 200.000đồng, đưa cho P và kêu đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng, P đồng ý. P điều khiển xe mô tô biển số 67M1-6197 đến thị xã T, tỉnh An Giang mua ma túy được đựng trong 01túi nilon hàn kín của người phụ nữ tên bà T2 giá 200.000đồng. Khi về nhà, P đưa ma túy cho C, P lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 cây kéo và 02 bật lửa đem ra đặt tại khoảng trống ở khu vực nhà bếp. C dùng kéo cắt túi nilon chứa ma túy và đổ ma túy vào trong nỏ thủy tinh cho cả nhóm cùng sử dụng. Lúc này, Huỳnh Bảo T1 (em ruột P) về đến nhà, nên T1 được rủ cùng sử dụng ma túy với C, T và P, khi này em Đỗ Nguyễn Mỹ T3 cũng đến tìm T1 nhưng không cùng sử dụng ma túy. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày 07/3/2024, bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
- 02 bật lửa và 01 cây kéo bằng kim loại (đều đã qua sử dụng);
- 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 chai nhựa trong suốt có nắp đật bằng nhựa màu đỏ, trên nắp chai có gắn ống hút nhựa và 01 cái nỏ thủy tinh bên trong nỏ còn bám ma túy. Sau khi giám định, được niêm phong trong hộp giấy và dán giấy niêm phong ghi “Niêm phong số 271/1 ngày 13/3/2024” có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K2 - Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Bé N và Phạm Quốc A.
- 01 (một) túi nylon hàn kín 03 đầu (01 đầu để hở) bên trong còn chứa tinh thể rắn màu trắng (là ma túy). Sau giám định, được niêm phong trong bao thư màu trắng, được dán giấy niêm phong ghi “Niêm phong số 271/2 ngày 13/3/2024” có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K2 - Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Bé N và Phạm Quốc A.
- Thu của Võ Hồng T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen, màn hình điện thoại có nhiều vết nứt, không kiểm tra chất lượng (đã qua sử dụng); không liên quan hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại T.
- Thu của Phạm Minh C:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, không kiểm tra chất lượng (đã qua sử dụng); không liên quan hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại C.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream II, biển số 66F6-3253, số máy 152FM00050857, màu nâu, đã qua sử dụng. Đây là xe mô tô thuộc sở hữu hợp pháp của bà Trần Thị S, là bà nội của C, nhưng ý thức bà S không biết việc C sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại bà S.
- Thu của Huỳnh Hữu P:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng; không liên quan hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại P.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu FUSACO, loại wave màu đỏ, biển số 67M1-6197, đã qua sử dụng. Đây là xe mô tô thuộc sở hữu hợp pháp của bà Võ Thị G, là mẹ ruột của P và T1, nhưng ý thức bà G không biết việc P sử dụng đi mua ma túy để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra đã trả lại bà G.
Tại Kết luận giám định số 271/KL-KTHS ngày 13/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận:
- Chất màu trắng dính trong nỏ thủy tinh, được niêm phong trong hộp giấy nêu trên gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu ít.
- Tinh thể rắn dính trong 01 túi nylon hàn kín ba đầu, một đầu để hở, được niêm phong trong bao thư nêu trên gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu ít.
Tại Kết luận giám định số 298/KL-KTHS ngày 18/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu nước tiểu chứa trong chai nước suối nhãn hiệu “Biển Đ” ghi thu của ông Huỳnh Hữu P, sinh năm 2002, được thu giữ và niêm phong vào lúc 20 giờ 10 phút đến 20 giờ 20 phút ngày 07/3/2024 tại Công an xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, được niêm phong nêu trên gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).
Tại Kết luận giám định số 297/KL-KTHS ngày 18/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu nước tiểu chứa trong chai nước suối nhãn hiệu “Biển Đ” ghi thu của ông Huỳnh Bảo T1, sinh năm 2006, được thu giữ và niêm phong vào lúc 19 giờ 15 phút đến 19 giờ 55 phút ngày 07/3/2024 tại Công an xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, được niêm phong nêu trên gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).
Tại Kết luận giám định số 321/KL-KTHS ngày 21/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu nước tiểu chứa trong chai nước suối nhãn hiệu “Biển Đ” ghi thu của ông Võ Hồng T, sinh năm 1987, được thu giữ và niêm phong vào lúc 20 giờ 35 phút đến 20 giờ 45 phút ngày 07/3/2024 tại Công an xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, được niêm phong nêu trên gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).
Tại Kết luận giám định số 322/KL-KTHS ngày 21/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu nước tiểu chứa trong chai nước suối nhãn hiệu “Biển Đ” ghi thu của ông Phạm Minh C, sinh năm 2004, được thu giữ và niêm phong vào lúc 21 giờ 00 phút đến 21 giờ 10 phút ngày 07/3/2024 tại Công an xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, được niêm phong nêu trên gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).
Tại Kết luận giám định số 283/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu nước tiểu chứa trong chai nước suối nhãn hiệu “Biển Đ” ghi thu của Đỗ Nguyễn Mỹ T3, sinh năm 2010, được thu giữ và niêm phong vào lúc 21 giờ 25 phút đến 21 giờ 35 phút ngày 07/3/2024 tại Công an xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, được niêm phong nêu trên gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).
Tại Cáo trạng số: 42/CT-VKSHN ngày 20/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố các bị cáo Huỳnh Hữu P, Phạm Minh C, Võ Hồng T về hành vi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 17; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu P, từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; Áp dụng Điều 17; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, xử phạt bị cáo Phạm Minh C, từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; Áp dụng Điều 17; điểm b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Hồng T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và buộc phải chấp hành hình phạt 01 (một) năm tù tại Bản án số: 26/2023/HS-ST ngày 18-5-2023 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự. Tổng hợp hình phạt chung là 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
* Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
Tịch thu tiêu hủy đối với:
- 02 bật lửa và 01 cây kéo bằng kim loại (đều đã qua sử dụng);
- 01 (một) hộp giấy có dán giấy niêm phong ghi “Niêm phong số 271/1 ngày 13/3/2024” có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K2 - Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Bé N và Phạm Quốc A.
- 01 (một) bao thư màu trắng, được dán giấy niêm phong ghi “Niêm phong số 271/2 ngày 13/3/2024” có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K2 - Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Bé N và Phạm Quốc A.
* Về trách nhiệm dân sự: không phát sinh nên không đề cập đến.
Tại phiên tòa các bị cáo Huỳnh Hữu P, Phạm Minh C, Võ Hồng T không tranh luận, nhưng có lời nói sau cùng: Đã biết ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để được sớm về lo làm ăn chân chính nuôi sống bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Đây là vụ án hình sự, theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự truy tố các bị cáo Huỳnh Hữu P, Phạm Minh C, Võ Hồng T về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự và vụ án xãy ra tại địa phận huyện H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì Tòa án có triệu tập người làm chứng, nhưng tại phiên tòa họ đều vắng mặt không lý do (mặt dù đã được triệu tập hợp lệ). Xét thấy qua ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, những người tham gia tố tụng có mặt, thì việc vắng mặt người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, vã lại họ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên, các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Tại phiên tòa bị cáo đã tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình, không bị ép buộc; Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
[2]. Về nội dung vụ án:
* Với vật chứng thu giữ được tại hiện trường, thì:
Kết luận giám định số 271/KL-KTHS ngày 13/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận:
- Chất màu trắng dính trong nỏ thủy tinh, được niêm phong trong hộp giấy nêu trên gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu ít.
- Tinh thể rắn dính trong 01 túi nylon hàn kín ba đầu, một đầu để hở, được niêm phong trong bao thư nêu trên gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu ít.
- 02 bật lửa và 01 cây kéo bằng kim loại (đều đã qua sử dụng);
- 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 chai nhựa trong suốt có nắp đật bằng nhựa màu đỏ, trên nắp chai có gắn ống hút nhựa và 01 cái nỏ thủy tinh bên trong nỏ còn bám ma túy.
Qua thẩm vấn công khai tại phiên tòa, các bị cáo Huỳnh Hữu P, Phạm Minh C, Võ Hồng T đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nêu ở phần nội dung vụ án; Các bị cáo bản thân đều không có nghề nghiệp ổn định và đều nghiện ma túy nên vào khoảng 11 giờ 30 ngày 07/3/2024 đã cùng nhau tổ chức sử dụng ma túy trái phép, cụ thể: Chiến hùn 150.000 đồng, T hùn 50.000 đồng, P thì dùng nhà mình để làm điểm sử dụng ma túy (vì mẹ của P là bà Võ Thị G thường xuyên đi bán vé số không có ở nhà và giao nhà cho P quản lý) – P đi mua ma túy về và lấy bộ dụng cụ ra rồi cả ba cùng sử dụng như đã nêu trên, thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Hội đồng xét xử, nhận thấy: Qua tranh tụng tại phiên tòa, với biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu giữ được và hành vi của các bị cáo đã thực hiện, phù hợp với lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, đánh giá tại phiên tòa, nên đủ cơ sở kết luận các bị cáo Huỳnh Hữu P, Phạm Minh C, Võ Hồng T, đồng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật và đây là vụ án có tính chất đồng phạm, nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, vì không có hứa hẹn, phân công trách nhiệm...cụ thể cho từng người, mà chỉ gặp rồi rủ nhau tổ chức, nên trách nhiệm hình sự như nhau.
Điều 17. Đồng phạm.
“1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
...”
Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a)...
b) Đối với 02 người trở lên;
...”
Hội đồng xét xử, thấy rằng: Hành vi đã thực hiện của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý của Nhà nước về phòng chống tác hại ma túy. Nhà nước đã có ban hành Luật phòng, chống ma túy, theo đó chất ma túy là loại chất cấm tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt trái phép, vì chất ma túy là chất gây nghiện, kích thích mạnh, ức chế thần kinh, nếu sử dụng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của con người. Vậy mà các bị cáo là những người đầy đủ năng lực hành vi, biết việc sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật, biết tác hại xấu của ma túy đến sức khỏe của con người, nhưng các bị cáo bất chấp, chỉ vì nhu cầu của bản thân mà thực hiện việc phạm tội, hành vi đó của các bị cáo đã làm hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng không tốt đến trật tự trị an ở địa phương. Nếu như các bị cáo có suy nghĩ chính chắn, mình tuổi đời còn trẻ, đều chưa có vợ con, vì sức khỏe của mình, của cộng đồng và việc làm đó bị pháp luật cấm, mà có ý thức tránh xa, không thực hiện, đặt biệt chỗ bị cáo C đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng và hiện đang bị quản lý giám sát tại địa phương..., thì cả ba bị cáo đều phải có ý thức tốt hơn tìm cho mình phương pháp cai nghiện và việc làm ổn định, có thu nhập chân chính để nuôi sống bản thân, phụ giúp gia đình thì không có vụ án này xảy ra và các bị cáo cũng không phải đứng trước phiên tòa chờ pháp luật phán xét. Do đó, với tính chất, mức độ, hậu quả qua hành vi mà các bị cáo gây ra và để giảm bớt sự bức xúc của dư luận xã hội hiện nay về tệ nạn ma túy tràn lan trong cộng đồng dân cư, đồng thời nhằm ổn định trật tự trị an ở địa phương, nên nghĩ cần có một mức phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo, bằng cách cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo thấy được lỗi lầm, có ý thức tốt hơn nữa trong việc chấp hành pháp luật, mà từ bỏ con đường phạm tội, trở thành công dân tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Ngoài ra đối với bị cáo T là đang chấp hành một bản án về tội trộm cắp tài sản với mức hình phạt 01 năm tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 năm – nhưng chỉ mới chấp hành được 09 tháng 19 ngày lại phạm tội mới, nên xem đây trường hợp tái phạm là thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, đồng thời áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự không cho bị cáo T hưởng án treo tại bản án số: 26/2023/HS-ST ngày 18-5-2023 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự nữa, mà buộc bị cáo T phải chấp hành 01 năm tù giam. Có như vậy mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm.
[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T có một tiền án (Tái phạm) quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; các bị cáo P, C không có.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy tại phiên tòa, cũng như qua quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, thuộc thành phần lao động thủ công, đều có trình độ học vấn thấp nên sự hiểu biết pháp luật có phần hạn chế và bị cáo T có cha ruột là người có công với chách mạng - nên nghĩ cần áp dụng điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Đó là tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[5]. Đối với các vấn đề khác mà Cáo trạng Viện kiểm sát đã nêu là không xem xét, không đề nghị hoặc đã xử lý xong do không liên quan vụ án, thì Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
[6]. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xét thấy:
- 02 bật lửa và 01 cây kéo bằng kim loại (đều đã qua sử dụng);
- 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 chai nhựa trong suốt có nắp đật bằng nhựa màu đỏ, trên nắp chai có gắn ống hút nhựa và 01 cái nỏ thủy tinh bên trong nỏ còn bám ma túy. Sau khi giám định, được niêm phong trong hộp giấy và dán giấy niêm phong ghi “Niêm phong số 271/1 ngày 13/3/2024” có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K2 - Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Bé N và Phạm Quốc A.
- 01 (một) túi nylon hàn kín 03 đầu (01 đầu để hở) bên trong còn chứa tinh thể rắn màu trắng (là ma túy). Sau giám định, được niêm phong trong bao thư màu trắng, được dán giấy niêm phong ghi “Niêm phong số 271/2 ngày 13/3/2024” có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K2 - Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Bé N và Phạm Quốc A.
=> Đều là phương tiện dụng cụ dùng vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy – Nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: không phát sinh nên không xem xét.
[8]. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về án phí, lệ phí để buộc các bị cáo nộp án phí theo quy định.
- Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ vào Điều 17; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Hữu P, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Hữu P: 07 (bảy) năm tù - thời hạn tù được tính từ ngày 24/4/2024.
- Căn cứ vào Điều 17; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh C, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh C: 07 (bảy) năm tù - thời hạn tù được tính từ ngày 23/4/2024.
- Căn cứ vào Điều 17; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Võ Hồng T, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Xử phạt: Bị cáo Võ Hồng T: 07 (bảy) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và buộc phải chấp hành hình phạt 01 (một) năm tù tại Bản án số: 26/2023/HS-ST ngày 18-5-2023 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự. Tổng hợp hình phạt chung là 08 (tám) năm tù - thời hạn tù được tính từ ngày 23/4/2024, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 12/3/2023 đến ngày 21/3/2023 (của Bản án số: 26/2023/HS-ST ngày 18-5-2023 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự).
- 5. Về xử lý vật chứng, tài sản: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy đối với:
- 02 bật lửa và 01 cây kéo bằng kim loại (đều đã qua sử dụng);
- 01 (một) hộp giấy có dán giấy niêm phong ghi “Niêm phong số 271/1 ngày 13/3/2024” có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K2 - Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Bé N và Phạm Quốc A.
- 01 (một) bao thư màu trắng, được dán giấy niêm phong ghi “Niêm phong số 271/2 ngày 13/3/2024” có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K2 - Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Bé N và Phạm Quốc A.
(Tất cả các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân dự huyện H, tỉnh Đồng Tháp đang quả lý)
- 6. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí, buộc:
Bị cáo Huỳnh Hữu P, phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Phạm Minh C, phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Võ Hồng T, phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- 7. Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (09/9/2024).
- 8. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Quốc Sách |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Hữu P, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Hữu P: 07 (bảy) năm tù - thời hạn tù được tính từ ngày 24/4/2024.
