|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày: 06-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Huân
Ông Dương Hữu Tường
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Hồng Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/HSST ngày 31/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST- HS ngày 21/8/2024 đối với:
* Bị cáo: Phạm Văn V, sinh ngày: 20/9/2002, tại xã Cẩm L, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn 2, xã Cẩm L, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Con ông Phạm T V, sinh năm 1981, trú tại xã Cẩm L, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh và con bà Nguyễn Thị K (Đã chết).
Tiền án: Ngày 07/7/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, tại Bản án số 31/2023/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt chính vào ngày 10/12/2023, chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Ngày 24/4/2022, bị Công an phường Lê Lợi, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác” bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng tại Quyết định số 125, chấp hành xong vào ngày 28/4/2023.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/5/2024, đến ngày 24/5/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Chị Nguyễn Thị Hà P, sinh ngày: 20/3/2006; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trú tại: Thôn Hồ P, xã Yên H, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Phạm Thị Huyền C, sinh năm 1991; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: TDP 9, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
- Anh Hoàng Quốc T, sinh năm 2007; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Thôn Phúc T, xã Nam Phúc T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Hoàng Quốc T: Anh Hoàng Quốc B, sinh năm 2005; Trú tại: Thôn Phúc T, xã Nam Phúc T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 11/5/2024, Phạm Văn V đi bộ từ thị trấn Cẩm Xuyên để về nhà. Khi đi đến đường Nguyễn B, thuộc tổ dân phố 5, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, thấy chị Nguyễn Thị Hà P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38X1 - 295... đi qua nên V vẫy tay xin đi nhờ xe, chị P đồng ý. Khi về thôn Đông H, xã Yên H thì V mượn điện thoại của chị P để gọi cho bạn đến đón, chị P đồng ý và nói với V điện thoại hết tiền không gọi được, bảo V đăng nhập vào tài khoản Facebook để gọi. Chị P đưa điện thoại Iphone 11 Promax, bên trong gắn số sim 0858024... cho V, V hỏi mật khẩu để đăng nhập thì chị P trả lời “Mật khẩu là 2036”. V đăng nhập vào tài khoản Facebook “Phạm Rim” gọi Messenger đến tài khoản Facebook "Nho Trung” của người bạn tên T ở huyện Cẩm X (không biết rõ lai lịch, năm sinh, địa chỉ cụ thể của người này) nhưng không liên lạc được nên V vào thư mục “Cài đặt” của điện thoại kiểm tra tài khoản icloud ấn mục đăng xuất thì thoát được tài khoản Icloud nên nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của chị P. V cầm điện thoại ngồi phía sau giả vờ gọi điện thoại để chị P không nghi ngờ. Khi chị P chở V đi đến khu vực trường THPT Nguyễn Đình L, thuộc thôn Trung D, xã Cẩm D thì chị P hỏi V “Bạn anh ở mô ra chở” thì V đáp “Bạn anh không ra được, nhờ em chở thêm đoạn nựa, để anh gọi chú ra chở”, V vừa nói vừa chỉ đường cho chị đi vào tuyến đường ven biển đi về tổ dân phố Song Y, thị trấn Thiên C, huyện Cẩm X, khoảng 800 mét thì V nói “chú đón ở trên nó rồi” và bảo chị P dừng xe còn V xuống xe cầm điện thoại giả vờ đang gọi điện nói chuyện với bạn thì chị P quay đầu lại nói với V “Trả điện thoại để em gọi cho mẹ”, thì V trả lời “Để anh nói xong đã” rồi V cầm điện thoại vừa nói chuyện vừa đi về thị trấn Thiên C. Khi đến quán bi-a “Queen club” ở thị trấn Thiên C, V gặp Hoàng Quốc T điều khiển xe máy điện đến chơi. V nhờ T chở lên thị trấn Cẩm X để bán điện thoại chiếm đoạt được thì T đồng ý. Tuy nhiên, do không bán được điện thoại nên V bảo T chở về khu vực cầu Cửa Nhượng, V xin số điện thoại của T để ngày mai liên lạc nhờ T chở đi bán điện thoại thì T đồng ý rồi đi về, V đứng ở giữa cầu lấy chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được của chị P mở thẻ sim vứt xuống biển và xóa các dữ liệu trong chiếc điện thoại. Đến khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 12/5/2024, V sử dụng số điện thoại 0355.581.xxx gọi điện nhờ T chở đi bán điện thoại thì T đồng ý. T điều khiển xe máy điện, BKS 38MĐ1-688... chở V đến cửa hàng “CT Apple” của chị Phạm Thị Huyền C, tại TDP 9, thị trấn Cẩm Xuyên, huyện Cẩm Xuyên, T đứng chờ trong cửa hàng còn V vào bán điện thoại cho chị Phạm Thị Huyền C được 2.600.000 đồng. Sau khi bán xong điện
thoại, V lấy tiền cá nhân trong ví cho T số tiền 150.000 đồng tiền công chở V. Số tiền bán điện thoại V sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Ngày 22/5/2024 Phạm Văn V đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Xuyên đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 29/KL-HĐĐG ngày 21/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, huyện Cẩm Xuyên kết luận như sau: 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Promax, màu xanh đen, số IMEI 1: 353903101212262, số IMEI 2: 353903101223640, đã qua sử dụng có trị giá là 4.500.000 đồng; 01 thẻ sim có số điện thoại 0858.024.xxx, thuộc nhà mạng Vinaphone, đã qua sử dụng có trị giá là 15.000 đồng. Tổng trị giá tài sản Phạm Văn V chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Hà P là 4.515.000 đồng.
* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã thu giữ, xử lý:
- - 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Promax, màu xanh đen, đã qua sử dụng, do chị Phạm Thị Huyền C giao nộp. Đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Hà P.
- - 01 USB chứa dữ liệu video hình ảnh chị Nguyễn Thị Hà P chở Phạm Văn V đi trên trục đường 19/5 qua địa bàn xã Cẩm D hướng về thị trấn Thiên C; 01 USB chứa dữ liệu video hình ảnh Phạm Văn V đi bộ qua quán bi-a của anh Lê Kim H, trú tại TDP 3, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; 01 USB chứa dữ liệu video hình ảnh Phạm Văn V cùng với Hoàng Quốc T đến cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại “CT Apple”, địa chỉ TDP 9, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh để bán chiếc điện thoại di động. Chuyển cùng hồ sơ vụ án.
Đối với thẻ sim có số điện thoại 0858.024... của chị Nguyễn Thị Hà P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.
* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản là chiếc điện thoại bị chiếm đoạt, bị hại chị Nguyễn Thị Hà P không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Chị Phạm Thị Huyền C yêu cầu Phạm Văn V bồi thường số tiền 2.600.000 đồng.
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 34/CT-VKSCX ngày 30/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Phạm Văn V về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình phạt: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 175; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn V mức án từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 22/5/2024; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phạm Văn V phải bồi thường cho chị Phạm Thị Huyền C số tiền 2.600.000 đồng.
- - Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự. Tổng số tiền án phí bị cáo phải chịu là 500.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không ai có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát. Bị cáo xin HĐXX khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với cáo trạng đã truy tố, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ, ngày 11/5/2024, tại huyện Cẩm X, lợi dụng sự tin tưởng của chị Nguyễn Thị Hà P, sau khi mượn được chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, màu xanh đen, bên trong gắn số sim 0858024... trị giá 4.515.000 đồng của chị P để liên lạc, Phạm Văn V đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt chiếc điện thoại nói trên rồi đưa đi bán được 2.600.000 đồng.
Hành vi trên của Phạm Văn V đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Do đó, việc tuy tố, xét xử bị cáo về tội danh, điều luật như Cáo trạng đã truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết “Tái phạm”, theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo; Đầu thú; đã từng tham gia nghĩa vụ quân sự trong thời gian từ tháng 2/2021 đến tháng 01/2023 tại Sư đoàn 968 Cam L, tỉnh Quảng T, theo quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về tính chất hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo đã lợi dụng sự tin tưởng chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt. Mặt khác, bị cáo đang có 01 tiền án nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa sai lầm mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định; gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản là chiếc điện thoại bị chiếm đoạt, bị hại chị Nguyễn Thị Hà P không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Huyền C yêu cầu Phạm Văn V bồi thường số tiền 2.600.000 đồng là tiền đã mua điện thoại bị cáo bán. Tại phiên tòa bị cáo chấp nhận bồi thường số tiền 2.600.000 đồng cho chị Phạm Thị Huyền C nên cần chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định của pháp luật, nên miễn xét.
Đối với các USB lưu giữ hình ảnh liên quan đến quá trình bị cáo phạm tội, được chuyển theo hồ sơ vụ án nên lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
[8] Đối với chị Phạm Thị Huyền C là là người mua chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Promax, do Phạm Văn V bán. Quá trình điều tra xác định, khi mua chị Phạm Thị Huyền C không biết điện thoại là tài sản do V phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập hình thức xử lý là có căn cứ.
Đối với Hoàng Quốc T là người chở Phạm Văn V đi bán chiếc điện thoại do V phạm tội mà có và được V cho số tiền 150.000 đồng. Quá trình điều tra xác định T không biết nguồn gốc của chiếc điện thoại là do V phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập hình thức xử lý là có căn cứ.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo luật định
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 175; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn V 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 22/5/2024.
-
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Phạm Văn V phải bồi thường cho chị Phạm Thị Huyền C số tiền 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng).
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
- Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1, Khoản 3 Điều 21, Điểm a, c Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Phạm Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự. Tổng số tiền án phí bị cáo phải chịu là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
-
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hoàng |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HS-ST
