|
TAND HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày: 22/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đinh Thị Đức.
- Ông Trần Văn Mỳ.
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Hồng Thanh, Thư ký TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong, Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST - HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 15/5/1981; Giới tính: Nam;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm V, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 5/12. Bố: Nguyễn Công K, đã chết; Mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1958; Vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1983. Có 03 con. Con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2014. Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang được tại ngoại tại địa phương nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: ông Nông Văn T1, sinh năm 1958 (đã chết).
* Đại diện được ủy quyền theo pháp luật của bị hại: Anh Nông Việt C, sinh năm 1989. Địa chỉ: xóm C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nông Thị H1, sinh năm 1979. Trú tại: xóm C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt có lý do).
- Chị Phạm Thị H, sinh năm 1983. Trú tại: xóm V, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt);
- Anh Nguyễn Danh S, sinh năm 1986. Địa chỉ: xóm M, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).
* Người làm chứng: anh Vũ Văn N, sinh năm 1976. Địa chỉ: xóm V, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; anh Đào Văn C1, sinh năm 1978, anh Chu Hồng T2, sinh năm 2004. Đều trú tại: xóm C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Đều có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 27/12/2023, Nguyễn Văn T (có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 còn hiệu lực theo quy định) một mình điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu SUZUKI, BKS: 20C-220.96 đi từ nhà thuộc xóm V, xã P, huyện Đ đến các xã thuộc huyện Đ và các xã thuộc huyện Đ để thu mua chè tươi. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, T một mình điều khiển xe đi trên đường liên xã H - Đ đến nhà anh Đào Văn C1, sinh năm 1978 ở xóm C, xã Đ, huyện Đ để hỏi mua chó con do có hẹn từ trước với anh C1. Tuy nhiên khi đến trước nhà anh C1 (nằm bên trái đường theo chiều đi của T) thì T thấy cửa nhà anh C1 đang khoá nên T điều khiển xe đi tiếp khoảng 30m về hướng xã Đ và dừng đỗ tại mép đường trước cửa quán T4 của gia đình chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1980, trú tại: xóm C, xã Đ, huyện Đ - nằm bên phải đường theo chiều đi của T. Sau đó T xuống xe, đi vào trong quán của chị L1 để uống nước và hỏi xin chị L1 số điện thoại của anh C1. Khi T đang chuẩn bị gọi điện thoại cho anh C1 thì anh C1 đi bộ đến quán nhà chị L1 và bảo T sang nhà anh C1 uống nước. Lúc này, T lên xe ô tô BKS: 20C-220.96, khởi động xe, quan sát thấy phía trước và phía sau không có phương tiện nào đi đến nên T bắt đầu vào số lùi, nhả phanh tay rồi dần nhả chân côn, nhấn ga để lùi xe về phía cổng nhà anh C1. T lùi xe thẳng khoảng 02 - 03 mét rồi đánh lái để đuôi xe lùi chếch chéo khoảng 45 độ về phía bên trái. Khi lùi đến giữa đường thì T đánh lái để xe song song với đường rồi tiếp tục lùi. Quá trình lùi xe T không bật đèn tín hiệu cảnh báo, không đảm bảo an toàn cho các phương tiện giao thông khác nên khi xe ô tô do T điều khiển lùi tiếp được khoảng 10 mét thì phần đuôi xe bên phải của T đã xảy ra va chạm với phần đầu bên trái của xe mô tô BKS: 20F1-167.30 do ông Nông Văn T1, sinh năm 1958, trú tại xóm C, xã Đ, huyện Đ điều khiển đi đến từ phía sau theo hướng P - Đ đi đúng phần đường. Hậu quả: Xe mô tô của ông T1 đổ nghiêng trên phần đường của ông T1 và ông T1 bị ngã ra đường. Ông T1 bị thương tích sau đó tử vong trong quá trình đưa đi bệnh viện cấp cứu. Xe mô tô BKS: 20F1-167.30 và xe ô tô tải BKS: 20C-220.96 đều bị hư hỏng nhẹ.
Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu thập dấu vết xác định nguyên nhân gây ra tai nạn, khám nghiệm tử thi và trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản.
Kết quả khám nghiệm hiện trường sau tai nạn (các phương tiện, dấu vết được ký hiệu trên hiện trường):
Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường bê tông thẳng phẳng có độ rộng 3,5m. Theo hướng Đ - P, bên phải đường là lề cỏ có bề rộng 1,1m, bên trái đường là lề cỏ có bề rộng 1,6m. Quá trình khám nghiệm hiện trường, lấy cột điện số 1.33TBA Thống Nhất nằm bên trái đường H - P làm điểm mốc. Lấy mép đường bên trái hướng Đ - P làm mép đường chuẩn để đo các số đo, các số đo được đo vuông góc. Tại hiện trường phát hiện:
Ký hiệu số (1) trên sơ đồ hiện trường là 01 chiếc xe mô tô BKS: 20F1-167.30 sau tai nạn đổ nghiêng trái tại mặt đường, đầu xe quay hướng Đ, đuôi xe quay hướng P. T3 trục bánh trước và tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn lần lượt là 1,3m và 0,65m.
Ký hiệu số (2) là vết cày xước mặt đường kích thước (55 x 01)cm có chiều P - Đ. Điểm đầu cách mép đường chuẩn 0,8m, điểm cuối trùng với vị trí để chân người lái bên trái của xe mô tô vị trí số (1) tiếp xúc với mặt đường.
Ký hiệu số (3) là vùng dấu vết vật chất màu đỏ (nghi máu) bám dính tại lề cỏ bên trái hướng Đ - P trên diện kích thước (30 x 25)cm. T3 vùng vật chất cách mép đường chuẩn 0,28m, cách tâm trục bánh lốp sau xe mô tô vị trí (1) là 2,2m.
Ký hiệu số (4) là xe ô tô BKS: 20C - 220.96 sau tai nạn xe đỗ tại đường, đầu xe quay hướng Đ, đuôi xe quay hướng P. T3 trục bánh lốp trước và bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn lần lượt là 01m và 1,1m. Tâm trục bánh lốp trước bên phải cách điểm mốc là 33,4m. T3 trục bánh lốp sau bên phải cách tâm trục bánh lốp trước xe mô tô vị trí (1) là 1,3m;
Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông:
Xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI, loại xe: tải có mui, BKS: 20C - 220.96 sau tai nạn bị hư hỏng như sau: Tại vị trí góc ngoài cùng phía sau bên phải người lái, thùng xe có dấu vết cong vênh, biến dạng, xước kim loại kích thước dài 63cm, chỗ rộng nhất 06cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 98cm. Biển kiểm soát phía sau xe bị đẩy lùi từ sau về trước 11 cm so với vị trí ban đầu;
Xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Wave Alpha, BKS: 20F1-167.30 sau tai nạn bị hư hỏng như sau: Đèn xin đường phía trước bên trái người điều khiển bị rời khỏi vị trí ban đầu, vỡ vùng nhựa trên diện kích thước (24 x 11)cm. Tại vị trí cánh yếm bên trái người điều khiển có vùng vỡ nhựa kích thước (10 x 11)cm, tâm vùng vỡ cách mặt đất 75cm. Để chân bên trái người điều khiển bị cong vênh từ trước về sau, lệch so với vị trí ban đầu là 10cm. Đầu để chân có vết rách hở cao su lộ kim loại, đầu kim loại có vết mài xước kim loại;
Tại Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 26/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận:
Giá trị thiệt hại của xe mô tô gắn BKS: 20F1-167.30, nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVE ALPHA tại thời điểm tháng 12/2023 là 510.000 đồng.
Giá trị thiệt hại của xeô tô, nhãn hiệu SUZUKI, loại xe: Tải có mui, BKS: 20C-220.96 tại thời điểm tháng 12/2023 là 1.200.000 đồng;
Tại Kết luận giám định tử thi số 228/KLGĐTT-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của ông T1: Các kết quả chính: Tại vùng chẩm bên trái cách sau gốc tai trái 8,5cm có vết xây xát da, bầm tím kích thước 5,5cm x 4cm; xung quanh có khối sưng nề kích thước 8cm x 6cm. Vỡ lún xương trán bên trái, đường vỡ lan xuống nền sọ trước. Tụ máu ngoài màng cứng và dưới màng cứng thùy trán bên trái. Tổ chức não bị phù nề. Trật khớp háng bên trái. Kết luận: Nông Văn T1, sinh năm 1958, nơi đăng ký HKTT: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên bị chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ, chảy tụ máu trong hộp sọ, phù nề tổ chức não, tổn thương thần kinh trung ương dẫn đến chết;
Tại Kết luận giám định độc chất số 69/KLGĐĐC-KTHS ngày 10/01/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận: Trong mẫu máu của tử thi Nông Văn T1 có tìm thấy E nồng độ 185,65mg/dL và không tìm thấy chất ma tuý.
Các phương tiện,đồ vật liên quan đến vụ tai nạn giao thông gồm: 01 chiếc xe ô tôBKS: 20C - 220.96, nhãn hiệu SUZUKI, loại xe: Tải có mui thu giữ của T; 01 chiếc xe mô tô BKS: 20F1-167.30, nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVE ALPHA thu giữ của ông T1. Ngày 29/01/2024, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật bằng hình thức trả lại chiếc xe ô tô tải cho chủ sở hữu hợp pháp là Nguyễn Văn T; trả lại chiếc xe mô tô cho người đại diện hợp pháp của ông Nông Văn T1 là anh Nông Việt C, sinh năm 1989, trú tại: xóm C, xã Đ, huyện Đ (là con ruột ông T1) quản lý, sử dụng.
+ Mẫu máu tươi được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT1 thu giữ trong quá trình khám nghiệm tử thi ông T1. Ngày 27/12/2023, Cơ quan CSĐT đã gửi mẫu máu trên trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh T giám định cồn và ma tuý, quá trình giám định đã sử dụng hết mẫu máu.
+ Mẫu máu được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường; Mẫu máu được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT2 thu giữ trong quá trình khám nghiệm tử thi ông T1. Hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.
Về phần trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra T đã tự nguyện bồi thường cho đại diện gia đình ông Nông Văn T1 số tiền 90.000.000 đồng. Đại diện gia đình ông T1 không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T.
Tại bản cáo trạng số 33/CT - VKSĐT ngày 28/3/2024, VKSND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ giữ quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Ghi nhận việc bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong cho phía gia đình bị hại tại giai đoạn điều tra số tiền 90.000.000đ. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan; xin được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, đại diện bị hại, người có QLNVLQ
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện bị hại, và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
[2]. Xét hành vi của bị cáo, thấy: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận. Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 27/12/2023, Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 còn thời hạn theo quy định điều khiển xe ô tô BKS: 20C - 220.96 lưu thông tại đường liên xã H - Đ thuộc xóm C, xã Đ, huyện Đ. Khi xuất phát từ vị trí mép đường bên phải hướng P - Đ lùi về phía xã P, quá trình lùi xe ô tô Thu không bật đèn tín hiệu cảnh báo, không đảm bảo an toàn cho các phương tiện giao thông khác đang tham gia giao thông trên đoạn đường nên khi xe ô tô do T điều khiển lùi đến giữa đường thì phần đuôi xe bên phải của T va chạm với phần đầu bên trái của xe mô tô BKS: 20F1-167.30 do ông Nông Văn T1 điều khiển đi đúng phần đường quy định từ phía sau đi đến và đã gây tai nạn giao thông làm ông T1 bị ngã ra đường, chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ, chảy tụ máu trong hộp sọ, phù nề tổ chức não, tổn thương thần kinh trung ương dẫn đến chết. Hai phương tiện liên quan bị hư hỏng nhẹ, tổng giá trị thiệt hại là 1.710.000 đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người làm chứng; biên bản khám nghiệm và sơ đồ hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi cùng các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ căn cứ xác định: Hành vi của Nguyễn Văn T, đã vi phạm quy định tại khoản 1, Điều 16 Luật giao thông đường bộ.
Nội dung khoản 1 điều 16 quy định: “1. Khi lùi xe, người điều khiển phải quan sát phía sau, có tín hiệu cần thiết và chỉ khi nào thấy không nguy hiểm mới được lùi ..…”:
Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của VKSND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Nội dung điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a, Làm chết người ...”.
Bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.
[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội: Tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi vô ý; bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, biết rõ việc không tuân thủ các quy định về tham gia giao thông đường bộ là vi phạm pháp luật nhưng do chủ quan, cẩu thả vì quá tự tin nên khi lùi xe đã gây ra tai nạn làm chết một người. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ, làm ảnh hưởng đến an ninh an toàn tại địa phương.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; sửa chữa, khắc phục toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại và được phía đại diện người bị hại có đơn và ý kiến xin miễn trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.
[5]. Xét nhân thân của bị cáo: Bị cáo được sinh ra và lớn lên trong gia đình lao động, được gia đình nuôi ăn học, có đầy đủ nhận thức đối với các việc làm đúng sai; bản thân là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[6]. Về hình phạt: Bị cáo T là người chưa có tiền án, tiền sự; có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; sau khi sự việc sẩy ra đã chủ động khắc phục, bồi thường đầy đủ thiệt hại cho phía người bị hại và được đại diện bị hại có đơn và ý kiến xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt. Mặt khác, tuy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nhưng với lỗi vô ý; đồng thời qua diễn biến nội dung vụ án cũng như các tài liệu chứng cứ đã được thu thập thì thấy người bị hại khi tham gia giao thông đã sử dụng rượu bia (Tại Kết luận giám định độc chất số 69/KLGĐĐC-KTHS ngày 10/01/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận: Trong mẫu máu của tử thi Nông Văn T1 có tìm thấy E nồng độ 185,65mg/dL và không tìm thấy chất ma tuý); không có giấy phép lái xe mô tô, đây cũng là một trong các yếu tố gây lên vụ tai nạn giao thông. Vì vậy, khi quyết định hình phạt HĐXX cần cân nhắc, xem xét toàn diện để có mức hình phạt cho phù hợp, đảm bảo đúng các quy định của pháp luật và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra các bên đã tự thỏa thuận bồi thường xong cho nhau số tiền 90.000.000đ. Tại phiên tòa không còn phát sinh yêu cầu nào khác, HĐXX không xem xét chỉ cần ghi nhận là phù hợp.
[8]. Về vật chứng của vụ án:
+ Các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và một phần mẫu máu thu giữ khi khám nghiệm (MT1) đã được cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu và sử dụng giám định hết. HĐXX không có căn cứ xem xét.
+ Mẫu máu được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường; Mẫu máu được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT2 thu giữ trong quá trình khám nghiệm tử thi ông T1. Xác định đã có các kết luận giám định bổ trợ tư pháp, mặt khác không có đủ điều kiện để lưu giữ được các vật phẩm trên nên cần được tịch thu tiêu hủy.
[9]. Các vấn đề có liên quan khác: không.
[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST sung quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì tùy trường hợp Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.
* Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Văn T và gia đình đã bồi thường xong cho người bị hại ông Nông Văn T1 đại diện là anh Nông Việt C số tiền 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng).
* Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS. Tịch thu tiêu hủy: Mẫu máu được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường; Mẫu máu được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT2 thu giữ trong quá trình khám nghiệm tử thi ông T1.
(Đặc diểm, tình trạng vật chứng như mô tả trong quyết định chuyển vật chứng số 30/QĐ - VKSĐT ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ và các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Luật án phí lệ phí; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST sung ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo, đại diện bị hại và người có QLNVLQ biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt và kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định đối với người vắng mặt.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Kiên |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
