TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày 18-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Thành
Bà Đoàn Thị Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Huy Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024; Thông báo thay đổi lịch, thời gian, địa điểm mở phiên toà số 32/2024/TB-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Minh T, sinh năm 28 tháng 9 năm 1989 tại Hải Phòng; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B và bà Lê Thị H; tiền án: Bản án số 24/2021/HS-ST ngày 28/9/2021 của Toà án nhân dân huyện Cát Hải xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 29/6/2024, chuyển tạm giam ngày 02/7/2024; có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Vũ Anh V; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 30 phút, ngày 29/6/2024, tại khu vực Cảng cá thuộc thôn B, xã T, huyện C, thành phố Hải Phòng, tổ công tác Đồn Biên phòng C bắt quả tang Phạm Minh T có hành vi cất giữ trái phép chất ma tuý. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của T 01 túi nilon màu trắng kich thước 7x5cm bên trong chứa chất bột dạng cục. T khai là ma tuý Heroine, mục đích để sử dụng. Đồn Biên phòng C đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng để tiến hành giám định.
Kết luận giám định số 862/KL-KTHS ngày 30/6/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,26 gam, loại Heroine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Minh T khai nhận: Do nghiện ma tuý nên vào khoảng 14 giờ 15 phút ngày 29/6/2024, T một mình đi bộ từ nhà tại tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng đến khu vực Cảng cá thuộc thôn B, xã T, huyện C, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma tuý sử dụng. T gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua 500.000 đồng được 01 túi nilon chứa ma tuý Heroine. T cất giữ túi nilon ma tuý mua được trong lòng bàn tay phải, khi T đi bộ đến khu vực Cổng cảng cá T thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng C phát hiện, bắt quả tang thu giữ số ma tuý nêu trên. Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo đã vi phạm pháp luật, việc điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng pháp luật.
Bản Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 19/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Phạm Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Nguyễn Minh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, đồng thời phân tích hành vi, nhân thân, hoàn cảnh phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Minh T từ 36 (ba mươi sáu) tháng tù đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, vì bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Về vật chứng vụ án tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa lượng ma túy còn lại sau giám định. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Sau khi nghe bản luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Đồn Biên phòng C, Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải và những người tiến hành tố tụng của các cơ quan trên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, vật chứng thu được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Hồi 14 giờ 15 phút, ngày 29/6/2024, tại khu vực Cảng cá thuộc thôn B, xã T, huyện C, thành phố Hải Phòng, Phạm Minh T bị bắt quả tang có hành vi cất giữ trái phép 2,26 gam ma tuý Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng trên là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
[3] Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng để giáo dục cải tạo bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án số 24/2021/HS-ST ngày 28/9/2021 của Toà án nhân dân huyện Cát Hải xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, qua đó cũng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, khó giáo dục tại cộng đồng.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Chất ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 862/MT/PC09 là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về các vấn đề khác:
- - Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không có cơ sở xử lý.
- [9] Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Phạm Minh T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 29 tháng 6 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 862/MT/PC09 chứa lượng ma túy còn lại sau giám định.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Hải).
Về án phí hình sự: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Hưng |
4
5
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Minh T tàng trữ trái phép chất ma tuý
