|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ - TP HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày 10- 5- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị M Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Ngọc
Ông Đặng Hữu Tình
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Mơ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Ngọc- Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Doãn Văn Th, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1987 tại xã V, huyện P, TP Hà Nội.
Trú tại: Thôn 3, xã V, huyện P, TP Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Doãn Văn H (đã chết) và bà Vũ Thị V; Vợ: Phạm Thị T; Con: Có 02 con sinh năm 2011 và 2016; Tiền án; Tiền sự: Không; Tạm giữ, Tạm giam: Bị cáo đang bị tạm giam theo quyết định tạm giam của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, có mặt tại phiên tòa.
Nhân thân: Tại Bản án có hiệu lực pháp luật số 32/2024/HS-ST ngày 22/3/2024, Th bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 20/11/2023, thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023 (Hành vi phạm tội Trộm cắp tài sản thực hiện sau khi gây tai nạn giao thông)
Người tham gia tố tụng khác:
Bị hại:
Bà Đặng Thị M, sinh năm 1958 (Đã chết)
Địa chỉ: Thôn 2, xã T, huyện Đ, TP Hà Nội
Người đại diện hợp pháp của bà M: Anh Đỗ Trọng O, sinh năm 1979 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn 1, xã T, huyện Đ, TP Hà Nội (Con đẻ).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
- Bà Đào Thị S, sinh năm 1968 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn 1, xã T, huyện Đ, TP Hà Nội, TP Hà Nội
-
- Cụ Trần Thị C (Mẹ đẻ bà M)
Địa chỉ: Thôn 4, xã V, huyện P, TP Hà Nội;
-
- Anh Đỗ Trọng O, sinh năm 1979 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn 1, xã T, huyện Đ, TP Hà Nội (Con đẻ bà M)
-
- Anh Đỗ Xuân N, sinh năm 1981 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn 2, xã T, huyện Đ, TP Hà Nội (Con đẻ bà M)
-
- Anh Đỗ Ngọc S, sinh năm 1987 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn 2, xã T, huyện Đ, TP Hà Nội (Con đẻ bà M)
Người đại diện theo ủy quyền của cụ C, anh N, anh S là anh Đỗ Trọng O, sinh năm 1979 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn 1, xã T, huyện Đ, TP Hà Nội
Người làm chứng:
Anh Dương Văn B, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn CL, xã XĐ, huyện P, TP Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 13/9/2023, Doãn Văn Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream, màu nâu, biển kiểm soát 33M7-8298 (dung tích xi lanh 97 cm³) theo tỉnh lộ 417 hướng từ thị xã ST về nhà tại xã V, huyện P, thành phố Hà Nội. Khi đến đoạn đường thuộc xã XĐ, huyện P, Th phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đỏ-đen, biển kiểm soát 29X3-603.12 do bà Đào Thị S (sinh năm: 1968, trú tại: Thôn 1, xã T, huyện Đ, TP Hà Nội ) điều khiển chở bà Đặng Thị M (sinh năm 1958, trú tại: Thôn 2, xã T, huyện Đ, TP Hà Nội ) đi phía trước, cùng chiều, cách đầu xe mô tô của Th khoảng 50 mét. Do trời đang mưa, Th hơi cúi mặt để tránh bị nước hắt vào mặt, tầm nhìn bị hạn chế (theo Th khai báo tầm nhìn từ đầu xe mô tô về phía trước chỉ còn từ 03m đến 05m), nhưng không giảm tốc độ nên để xe mô tô do mình điều khiển đâm va vào xe mô tô do bà Đào Thị S điều khiển, lúc đó bà S và bà M vừa xuống xe, đang dừng đỗ sát lề đường bên phải cùng chiều, để mặc áo mưa cũng bị xe mô tô đâm va trúng người bị thương tích.
Hậu quả:
- Bà Đào Thị S bị xây xát nhẹ không đi điều trị ở cơ sở y tế nào.
- Bà Đặng Thị M bị thương tích phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Sơn Tây, sau đó chuyển Bệnh viện hữu nghị Việt Đức, Hà Nội. Do thương tích nặng, theo nguyện vọng của gia đình nạn nhân, ngày 27/10/2023, Bệnh viện Việt Đức đã cho bà M về điều trị tại nhà, đến ngày 29/10/2023, bà M tử vong.
- 02 phương tiện bị hư hỏng.
Tại bản Kết luận số 1511 ngày 18/10/2023, Trung tâm pháp y – Sở y tế Hà Nội (giám định tổn thương cơ thể trên người sống đối với bà Đặng Thị M), Kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Đặng Thị M tại thời điểm giám định trong vụ việc ngày 13/9/2023 là: 99% (chín mươi chín phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tày gây ra. Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng, biến chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định, ra viện”.
Tuy nhiên, đến ngày 29/10/2023, do thương tích quá nặng không thể cứu chữa được nên bà Đặng Thị M đã tử vong, nhưng gia đình nạn nhân không thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phúc Thọ, mà tự tổ chức tang lễ và hoả táng; vì vậy, cơ quan chức năng không tiến hành được hoạt động giám định pháp y tử thi.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
- Hiện trường của đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông là tại đường Tỉnh lộ 417, thuộc xã XĐ, huyện P. Mặt đường rộng 8m, được dải nhựa nhẵn, phẳng. Giữa đường có vạch sơn màu vàng không liên tục phân chia đường thành 2 chiều đi UBND xã XĐ và đi UBND xã VX. Hai bên đường là cánh đồng. Mép đường bên phải hướng UBND xã XĐ đi xã VX có lối mở đi thôn Xuân Đoài, rộng 4m.
- Điểm mốc: Lấy vị trí điểm cuối lối mở ở mép đường bên phải hướng UBND xã XĐ đi xã VX.
- Mép đường chuẩn: Lấy mép đường bên phải hướng UBND xã XĐ đi xã VX.
- Mô tả vị trí nạn nhân, phương tiện tang vật, dấu vết:
- (1) Vị trí xe môtô BKS: 33M7-8298: Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, xe mô tô bị gãy trục trước. Trục bánh sau và thân xe đỗ theo phương thẳng đứng. Trục bánh trước tiếp giáp với mặt đường. Phần đầu xe hướng UBND xã XĐ, phần sau xe hướng xã VX. Đo khoảng cách từ trục bánh sau đến mép đường chuẩn là 4,7m. Đo khoảng cách từ trục bánh trước xe môtô đến mép đường chuẩn là 5m. Đo khoảng cách vuông góc từ trục bánh trước xe môtô đến điểm mốc là 10m.
- (2) Vị trí xe mô tô BKS: 29X3-603.12: Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, xe được dựng đứng bằng chân chống phụ hướng chếch chéo. Phần đầu xe hướng mép đường bên trái chiều UBND xã XĐ đi xã VX, phần sau xe hướng mép đường chuẩn. Đo khoảng cách từ trục bánh sau xe đến mép đường chuẩn là 6,3m. Đo khoảng cách từ trục bánh trước xe đến mép đường chuẩn là 7,3m. Đo khoảng cách vuông góc từ trục bánh trước xe mô tô BKS: 33M7-8298 đến trục bánh sau xe mô tô BKS: 29X3-603.12 là 1,6m.
- (3) Vị trí vết cày xước trên mặt đường kích thước (2,1x0,01)cm: Vết có chiều hướng VX đi UBND xã XĐ. Đo khoảng cách từ điểm đầu của vết đến mép đường chuẩn là 6,5m. Điểm cuối của vết cách trục bánh sau xe mô tô 29X3-603.12 là 30cm. Đo khoảng cách từ điểm cuối của vết đến mép đường chuẩn là 7m.
- (4) Vị trí vết màu nâu đỏ (nghi máu) trên mặt đường kích thước (0,5x0,4)m. Đo khoảng cách từ điểm gần nhất của vết đến mép đường chuẩn là 6,1m. Đo khoảng cách vuông góc đến điểm mốc là 9,3m.
- (5) Vị trí đám nhựa nằm rải rác trên mặt đường kích thước (3,7x2,1)m. Đo khoảng cách từ điểm gần nhất của đám nhựa đến mép đường chuẩn là 4,1m. Đo khoảng cách từ điểm gần nhất đến điểm mốc là 8m.
* Kết quả khám nghiệm xe ô mô kiểu dáng Dream, màu nâu - đen, biển kiểm soát 33M7-8298:
- Càng xe trước, cổ phốt, bánh xe trước bị gãy rời ra khỏi vị trí ban đầu, có những dấu vết sau:
- + Mặt ngoài bên phải may ơ bánh trước có vết trượt xước kim loại kích thước (6x9)cm. Điểm gần nhất cách đầu trục bên phải bánh này là 5cm.
- + Vành bánh trước có vết móp méo kim loại kích thước (15x3)cm. Vết có chiều hướng từ ngoài vào trong tâm vành. Điểm móp méo sâu nhất so với vị trí ban đầu 3cm. Điểm gần nhất của vết cách chân van 21cm.
- + Má lốp bên phải bánh trước có vết trượt màu đen, rách cao su kích thước (4x1)cm. Điểm gần nhất của vết cách chữ “SRC” in trên má lốp này là 21cm.
- + Giỏ đeo hông trước có vết móp méo kim loại diện tích (35x20)cm.
- + Chắn bùn bánh trước bị vỡ nhựa rời ra khỏi vị trí ban đầu
- - Mặt nạ, đèn chiếu sáng, ốp nhựa phía trước tay lái bị vỡ rơi ra khỏi vị trí ban đầu.
- - Đầu trên cánh yếm bên phải bị vỡ nhựa kích thước (23x9)cm.
* Kết quả khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Blade, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 29X3-603.12:
- Phía sau hộp xích có vết móp méo kim loại, bong tróc sơn kích thước (14x11)cm. Điểm thấp nhất của vết cách mặt đất 19cm, điểm cao nhất của vết cách mặt đất 36cm. Vết có chiều hướng từ sau về trước.
- Bên trái biển số xe bị cong kim loại, xô lệch theo chiều từ sau về trước kích thước (20x15)cm. Điểm thấp nhất của vết cách mặt đất 51cm. Điểm cao nhất của vết cách mặt đất 64cm.
- Đèn xi nhan phía sau bên trái bị vỡ nhựa kích thước (13x8)cm. Điểm thấp nhất của vết cách mặt đất 71cm, điểm cao nhất của vết cách mặt đất 79cm.
- Ốp nhựa bên trái phía sau xe có vết trượt xước nhựa mất sơn kích thước (30x8)cm. Vết có chiều hướng từ sau về trước. Điểm thấp nhất của vết cách mặt đất 67cm, điểm cao nhất của vết cách mặt đất 80cm.
- Mặt ngoài bên trái tay xách yên có vết trượt mài mòn nhựa kích thước (10x0,1) cm. Vết có chiều hướng từ sau về trước. Điểm thấp nhất của vết cách mặt đất 78cm.
* Vật chứng tạm thu giữ gồm:
- 01 (một) chiếc xe mô tô kiểu dáng Dream, màu sơn: nâu - đen, biển kiểm soát: 33M7-8298. Th khai mua lại xe này của một người không rõ lý lịch với giá 2.500.000 đồng, giao dịch trên mạng internet. Kết quả tra cứu nguồn gốc chiếc xe máy theo biển kiểm soát, thấy người đứng tên chính chủ là anh Đỗ T1 (sinh năm: 1980, trú tại: Thôn 3B, xã CN, huyện TT, thành phố Hà Nội), qua xác minh anh T1 cho biết đã bán chiếc xe máy trên từ lâu, đến nay không nhớ đã bán cho ai, cụ thể từ bao giờ. Tuy nhiên kiểm tra số khung, số máy thì kết quả không trùng với xe được gắn biển kiểm soát trên, mà lại thể hiện là xe được đeo biển kiểm soát 29V1-110.89 đứng tên đăng ký chủ xe là anh Phan Đăng T2 (Sinh năm 1982, trú tại thôn AT, xã VL, huyện B, thành phố Hà Nội), qua xác minh anh T2 cho biết đã bán chiếc xe máy trên từ lâu, đến nay không nhớ đã bán cho ai, cụ thể từ bao giờ. Kiểm tra các xe này đều không có trong dữ liệu vật chứng. Cơ quan điều tra ra Quyết định tách chiếc xe ra để xác minh xử lý khi có đủ căn cứ.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, màu sơn: đỏ đen, biển kiểm soát: 29X3-603.12, là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp và đăng ký chính chủ của bà Đào Thị S chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ bảo quản, xử lý theo quy định.
Về vấn đề dân sự:
Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, Doãn Văn Th chưa bồi thường gì cho gia đình bà Đặng Thị M. Đến nay, người đại diện gia đình nạn nhân là anh Đỗ Trọng Oanh yêu cầu bồi thường số tiền là 463.600.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi ba triệu sáu trăm nghìn đồng); bao gồm chi phí tiền viện phí khám, điều trị cho bà M, chi phí tiền cho người chăm sóc nạn nhân trong thời gian phải điều trị; chi phí mai táng; dịch vụ xe chở đi cứu chữa, điều trị; bồi thường tổn thất tinh thần...
Bà Đào Thị S không yêu cầu Th phải bồi thường về dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKSPT ngày 04/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ đã truy tố Doãn Văn Th về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị HĐXX xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với hành vi của bị cáo và yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho gia đình. Mức độ thiệt hại được xác định lại (do có sai sót trong cách tính) như sau:
- - Tiền tổn thất về tinh thần: 180.000.000₫
- - Tiền xe cấp cứu chở đi và tiền chụp City tại Bệnh viện Sơn Tây: 3.700.000₫;
- - Viện phí 52.000.000đ;
- - Tiền thuốc 45.700.000đ;
- - Tiền thuê máy trợ thở, thuốc trợ tim và bình ô xy: 10.500.000đ;
- - Tiền thuê xe cấp cứu chở về: 3.200.000₫.
- - Chi phí bồi dưỡng sức khỏe: 250.000đ x 45 ngày = 11.250.000₫
- - Chi phí hợp lý cho người chăm sóc bị hại: 500.000đ x 45 ngày x 02 người = 45.000.000₫
- - Tiền hỏa táng, tiểu đựng hài cốt, vật dụng cần thiết cho việc tổ chức tang lễ = 26.500.000₫
- - Tiền xây mộ = 14.000.000đ.
- Tổng yêu cầu bồi thường 395.050.000₫ (Ba trăm chín mươi lăm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
- Bị cáo xin lỗi gia đình người bị hại, chấp nhận bồi thường theo mức mà bên bị hại yêu cầu nhưng do hiện nay đang chấp hành án nên bị cáo xin được thực hiện nghĩa vụ bồi thường sau khi đi chấp hành án trở về.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Doãn Văn Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38, Điều 55, 56 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Doãn Văn Th từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, Tổng hợp với hình phạt của bản án số 32/2024/HS-ST ngày 22/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/11/2023.
Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 395.050.000₫ (Ba trăm chín mươi lăm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả lại bà Đào Thị S 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, màu sơn đỏ đen, BKS 29X3-603.12.
- Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng là hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do vậy có đủ cơ sở để khẳng định:
Khoảng 18 giờ ngày 13/9/2023, Doãn Văn Th có giấy phép lái xe mô tô theo quy định: Hạng A1 điều khiển xe mô tô Dream, biển kiểm soát: 33M7-8298 (dung tích xi lanh 97 cm³) tham gia giao thông trên đường tỉnh lộ 417 hướng từ thị xã ST về nhà tại xã VP, huyện P, thành phố Hà Nội. Khi đến đoạn đường thuộc xã XĐ, huyện P, Th đã không chú ý quan sát, không làm chủ được tốc độ, đã vi phạm vào khoản 23, Điều 8 Luật giao thông đường bộ, để xe mô tô do mình đang điều khiển đâm va vào phía sau xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, biển kiểm soát 29X3-603.12 của bà Đào Thị S đang dừng, đỗ sát lề đường bên phải cùng chiều, đồng thời đâm, va vào bà Đặng Thị M và bà Đào Thị S đang đứng sát xe mô tô của mình để mặc áo mưa, gây nên vụ tai nạn giao thông. Hậu quả, bà M bị tổn thương cơ thể, tại thời điểm giám định ngày 10/10/2023 là 99% (chín mươi chín phần trăm). Bà M phải đi Bệnh viện cấp cứu, điều trị, đến ngày 29/10/2023 thì tử vong.
Hành vi nêu trên của Doãn Văn Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Do vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác, xâm phạm an toàn giao thông, an toàn công cộng. Bản thân bị cáo không có thái độ thiện chí thăm hỏi và bồi thường thiệt hại cho người bị hại, gây bất bình, bức xúc cho gia đình nạn nhân nên cần có biện pháp xử lý nghiêm khắc để răn đe bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tuy bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xét xử về tội Trộm cắp tài sản, Bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng hành vi trộm cắp tài sản thực hiện sau hành vi gây tai nạn giao thông trong vụ án này nên không bị coi là tiền án.
Tình tiết giảm nhẹ:
Tuy tại phiên tòa, anh S là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cho rằng bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ nhưng HĐXX thấy rằng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, đã có lời xin lỗi gia đình nạn nhân tại phiên tòa nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, đại diện gia đình người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 395.050.000đ (Ba trăm chín mươi lăm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Xét yêu cầu bồi thường của đại diện gia đình người bị hại tại phiên tòa phù hợp với quy định của pháp luật, bị cáo đồng ý chấp nhận mức bồi thường mà bên bị hại yêu cầu nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của gia đình người bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 395.050.000₫ (Ba trăm chín mươi lăm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Bà Đào Thị S không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên HĐXX không phải xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô kiểu dáng Dream, màu sơn: nâu - đen, biển kiểm soát: 33M7-8298 Th khai mua lại xe này của một người không rõ lý lịch với giá 2.500.000 đồng, giao dịch trên mạng internet. Kết quả tra cứu nguồn gốc chiếc xe máy theo biển kiểm soát, thấy người đứng tên chính chủ là anh Đỗ T1 (sinh năm: 1980, trú tại: Thôn 3B, xã CN, huyện TT, thành phố Hà Nội), qua xác minh anh T1 cho biết đã bán chiếc xe máy trên từ lâu, đến nay không nhớ đã bán cho ai, cụ thể từ bao giờ. Tuy nhiên kiểm tra số khung, số máy thì kết quả không trùng với xe được gắn biển kiểm soát trên, mà lại thể hiện là xe được đeo biển kiểm soát 29V1-110.89 đứng tên đăng ký chủ xe là anh Phan Đăng T2 (Sinh năm 1982, trú tại thôn AT, xã VL, huyện B, thành phố Hà Nội), qua xác minh anh T2 cho biết đã bán chiếc xe máy trên từ lâu, đến nay không nhớ đã bán cho ai, cụ thể từ bao giờ. Kiểm tra các xe này đều không có trong dữ liệu vật chứng. Cơ quan điều tra ra Quyết định tách chiếc xe ra để xác minh, xử lý khi có đủ căn cứ. Do vậy HĐXX không xem xét
Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, màu sơn: đỏ đen, biển kiểm soát: 29X3-603.12, xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp và đăng ký chính chủ của bà Đào Thị S. Do vậy cần trả lại cho bà S.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, 56 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Doãn Văn Th 24 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, Tổng hợp với hình phạt của bản án số 32/2024/HS-ST ngày 22/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án là 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/11/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 591 của Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Doãn Văn Th phải bồi thường cho gia đình anh Đỗ Trọng O số tiền 395.050.000đ (Ba trăm chín mươi lăm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng)
Sau khi bản án có hiệu lực, kể từ ngày gia đình anh Đỗ Trọng O có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Doãn Văn Th không thi hành về phần tiền bồi thường thì bị cáo còn phải chịu tiền lãi chậm trả đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại bà Đào Thị S 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 29X3-603.12, số máy JA36E1133631, số khung RLHJA3660NY028274 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông).
Chiếc xe hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/5/2024
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 19.752.000đ (Mười chín triệu bảy trăm năm mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị M Loan |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Doãn Văn Th về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
