Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN KỲ

TỈNH NGHỆ AN

--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày: 08/5/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoan

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà: Nguyễn Thị Vân Anh.
  2. Bà: Vũ Thị Thanh Hương.

Thư ký phiên toà: Bà: Lê Thị Quyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ tham gia phiên tòa:

Ông: Trương Thành Công - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại: Trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2022/HSST, ngày 16/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Xuân T Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 06/7/1978 tại: huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: Xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại: Xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng.; Con ông: Lê Xuân T1 : Đã chết và bà: Nguyễn Thị B: Đã chết; Vợ: Hoàng Thị N, sinh năm 1981 - Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/3/2024, được thay thế cho gia đình bảo lĩnh ngày 05/4/2024. Có mặt.

Bị hại:

Chị: Trần Thị Thanh X, sinh năm: 1975. Có mặt.

Trú tại: Xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

Người làm chứng:

Anh: Lê Xuân C, Sinh năm: 1970. Có mặt.

Trú tại: Xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 19/01/2024, tại khu vực đồng ruộng L, thuộc xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Lê Xuân T, sinh năm 1978, trú tại xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An có đánh xe trâu ra khu vực ruộng nhà mình để làm việc. Khi đi qua khu vực ruộng nhà chị Trần Thị Thanh X, sinh năm 1975, trú tại xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An cùng chồng là anh Lê Xuân C, sinh năm 1970 đang làm việc tại đây, do xe trâu của anh Lê Xuân C để ở trên đường chặn mất lối đi tới ruộng của Lê Xuân T nên Lê Xuân T đã điều khiển xe trâu của mình đi xuống ruộng của vợ chồng anh Lê Xuân C để đi qua. Lúc này chị Trần Thị Thanh X đang làm việc thấy Lê Xuân T đánh xe trâu đi vào ruộng nhà mình nên nói với Lê Xuân T “Ê! Bữa ni, bữa khác đừng kéo xe xuống ruộng nữa” thì Lê Xuân T nói lại “Chị nhìn lại coi! Chồng chị để xe giữa đường thì em đi đường mô. Em phải xuống ruộng đi. Vừa vừa phải phải thôi làm ruộng với chắc”. Sau đó giữa Lê Xuân T và chị Trần Thị Thanh X xảy ra mâu thuẫn, chửi bới, thách thức lẫn nhau. Trong lúc mâu thuẫn thì Lê Xuân T có đi lên bờ ruộng cách vị trí chị Trần Thị Thanh X đang đứng khoảng 05 mét, nhặt một cục đất khô, cứng rồi bất ngờ dùng tay phải ném cục đất về phía chị Trần Thị Thanh X một phát trúng vào vùng mặt bên trái của chị Trần Thị Thanh X. Làm chị Trần Thị Thanh X bị thương tích phải đưa đi bệnh viện đa khoa khu vực T, tỉnh Nghệ An để điều trị. Còn đối với Lê Xuân T sau khi vụ việc xảy ra, Công an xã T đã mời Lê Xuân T đến làm việc. Tại buổi làm việc Lê Xuân T đã giao nộp cục đất khô mà Lê Xuân T dùng để ném gây ra thương tích chị Trần Thị Thanh X. (BL: 72, 77-109 HSVA)

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 19/01/2024 tại Trạm y tế xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An do Phạm Hùng C1 điều tra viên tiến hành cho thấy chị Trần Thị Thanh X có các dấu vết trên thân thể như sau:

  • 01 vết thương dài 0,5 x04 cm có hở da, cháy máu, sưng dưới mắt trái.
  • 01 vết rách dài 0,5 x0,5cm có chảy máu ở sống mũi. (BL:14 HSVA)

Sau khi vụ việc xảy ra Công an xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An tiến hành tiếp nhận vụ việc và xác minh ban đầu. Đến ngày 24/01/2024, Công an xã T đã chuyển toàn bộ hồ sơ cùng tang vật liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T để tiến hành điều tra, xử lý giải quyết theo quy định của Pháp luật.

Ngày 15/02/2024 Trần Thị Thanh X có đơn xin giám định tỷ lệ thương tật

Ngày 15/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Nghệ An ra quyết định trưng cầu giám định số 171/QĐ-CSĐT gửi Trung tâm Pháp y tỉnh N giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với thương tích trên cơ thể Trần Thị Thanh X.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 68/KLTTCT-TTPY ngày 16/02/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh N kết luận “Gãy xương chính mũi và vách ngăn mũi đã mổ nâng xương chính mũi. Hiện tại không ảnh hưởng chức năng thở. Gãy xương hàm trên bên trái đã mổ kết hợp xương. Một sẹo vết thương trùng sẹo mổ từ giữa sống mũi đến bờ dưới hố mắt bên trái xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thị Thanh X tại thời điểm giảm định là: 21% (hai mươi mốt phần trăm)”.

Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 132/KLTTCT-TTPY ngày 22 tháng 03 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh N về cơ chế hình thành dấu vết và vật gây thương tích đối với các tổn thương trên cơ thể chị Trần Thị Thanh X đã kết luận bổ sung “ Một sẹo vết thương trùng sẹo mổ kết hợp xương hàm trên và nâng xương chính mũi là do vật tày có cạnh tác động gây nên có chiều hướng từ trước ra sau. Gãy xương chính mũi do vật tày tác động gây nên có chiều hướng từ trước ra sau. Gãy xương hàm trên bên trái là do vật tày tác động gây nên có chiều hướng từ trước ra sau”(BL; 23-26HSVA)

Tại Cơ quan CSĐT, Lê Xuân T đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi Cố ý gây thương tích của mình, toàn bộ lời khai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan CSĐT đã thu thập được.

Tại bản Cáo trạng số: 39/CT-VKS-TK ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Lê Xuân T2 ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An để xét xử về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bị cáo Lê Xuân T phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s, khoản 1 Điều 51 Điều 65 BLHS xử phạt Lê Xuân T từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng. Thời hạn thi hành án kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương xã T quản lý giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, nếu bị cáo vi phạm nghĩa vụ của người được hưởng án treo từ 02 lần trở lên thì Tòa án đã cho hưởng án treo xem xét buộc bị cáo phải chấp hành án phạt tù.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy một cục đất khô ( có đặc điểm như biên bản giao nhận giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Kỳ và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 17/4/2024

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585, 590 BLDS buộc Lê Xuân t bồi thường cho bị hại 40.000.000 đồng.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Xuân T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có khai nại gì khác, bị cáo nhất trí với nội dung bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An. Bị hại không có khai nại gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Lê Xuân T đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung của bản cáo trạng đã nêu và quy kết, không có khai nại gì khác. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đầy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 19/01/2024, tại khu vực đồng ruộng L, thuộc xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, do xe bò của gia đình chị Trần Thị Thanh X chắn lối đi đến ruộng lúa nhà mình nên Lê Xuân T, sinh năm 1978, trú tại xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An đã điều khiển xe trâu đi xuống ruộng đang cày bừa của nhà chị Trần Thị Thanh X, thấy vậy chị X đã có lời qua tiếng lại với Lê Xuân T, do bực tức nên Lê Xuân T đã dùng một cục đất cứng ( là hung khí nguy hiểm) ném trúng vào mặt chị Trần Thị Thanh X. tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thị Thanh X tại thời điểm giám định là: 21% (hai mươi mốt phần trăm)”.

Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:

"1.Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm.

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Như vậy: Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Xuân T đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

[3] Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng và bất bình trong trong quần chúng nhân dân.

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức về xã hội. Bị cáo biết rõ việc xâm phạm sức khỏe, cố ý gây thương tích cho người khác bị pháp luật trừng trị. Nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ do xe bò của gia đình chị Trần Thị Thanh X chắn lối đi đến ruộng lúa nhà mình nên Lê Xuân T, sinh năm 1978, trú tại xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An đã điều khiển xe trâu đi xuống ruộng đang cày bừa của nhà chị Trần Thị Thanh X, thấy vậy chị X đã có lời qua tiếng lại với Lê Xuân T, do bực tức nên Lê Xuân T đã dùng một cục đất cứng ( là hung khí nguy hiểm) ném trúng vào mặt chị Trần Thị Thanh X. Hậu quả: chị X bị tổn thương cơ thể 21% (hai mươi mốt phần trăm). Điều đó chứng tỏ bị cáo là đối tượng xem thường pháp luật. Vì vậy cần có đường lối xử phạt nghiêm minh tương xứng với tích chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để làm gương cho những đối tượng đang có ý đồ tương tự.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

  • Tình tiết tăng nặng: Không.
  • Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ, gồm:, Người phạm tội hành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa có tiền án, chưa có tiền sự, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho xử bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi c bị cáo cư trú và gia đình giám sát giáo dục cũng đủ nghiêm.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra cúng như tại phiên, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tổn thất tinh thần tổng số tiền là: 40.000.000 đồng ( Bốn mươi triệu đồng chẵn).

Tại phiên tòa hôm nay,bị cáo và bị hại thống nhất, thỏa thuận được mức bồi thường.là bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng ( Bốn mươi triệu đồng chẵn)., nên ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại. Số tiền 40.000.000 đồng ( Bốn mươi triệu đồng chẵn) bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0000568 ngày 05/4/2024, nên được khấu trừ vào số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại.

[5] Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra có thu giữ:. 01 cục đất khô cứng màu đen, không xác định hình dạng, có chu vi lớn nhất là 16,5cm, trên bề mặt bám dính cỏ khô. Đây là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Xuân T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm . Bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH

1- Căn cứ: Điểm đ Khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo: Lê Xuân T 24 tháng tù, Về tội “ Cố ý gây thương tích”. nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 ( Bốn mươi tám tháng) tháng. Thời hạn thi hành án kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lê Xuân T cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Lê Xuân T được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585, 590 Bộ luật Dân sự:

Ghi nhân sự thỏa thuận của bị cáo Lê Xuân T và bị hại chị Trần Thị Thanh X số tiền 40.000.000 đồng ( Bốn mươi triệu đồng chẵn), nhưng được khấu trừ vào số tiền 40.000.000 đồng ( Bốn mươi triệu đồng chẵn) mà bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0000568 ngày 05/4/2024.

3. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy một cục đất khô. Có đặc điểm như biên bản giao nhận giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Kỳ và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 17/4/2024

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Xuân T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm

5- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

CÁC HỘI THẨM

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Hoan

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Công an huyện Tân Kỳ;
  • - VKSND huyện Tân Kỳ;
  • - Chi cục THADS Tân Kỳ;
  • - Bị cáo, bị hại
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Hoan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN về hình sự: cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HS số 39/2024/HS-ST ngày 08/5/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger