|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HS-ST
Ngày: 04-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Liêm.
Bà Nguyễn Thị Đẹp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Đăng, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 32/2024/TLST-HS, ngày 17 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Hồ Minh T
, sinh năm: 1997, tại Đồng Tháp; Tên gọi khác: Cu Đen; Nơi cư trú: Số B, đường T, Khóm B, Phường D, thành phố S, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn C và con bà Nguyễn Thị P; Có vợ (chưa đăng ký kết hôn) và 01 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 06/01/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2012/HS-ST. Ngày 04/8/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2015/ HS-ST. Ngày 26/4/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2018/HS-ST; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại: Số B, đường T, Khóm B, Phường D, thành phố S, tỉnh Đ. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:
1. Đỗ Long T1 - sinh năm: 1996. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số A, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh A.
2. Nguyễn Thị Liên H - sinh năm: 2000. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số A, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
3. Trần Thanh V - sinh năm: 2003. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số C, rạch N, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Lê T2 - sinh năm: 1982. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số D, khóm T, phường T, thành phố S, tỉnh Đ.
2. Châu Thành N - sinh năm: 1987. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số C, đường T, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ.
3. Nguyễn Đức A - sinh năm: 1994. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Đ.
- Người làm chứng:
1. Trang Thị Bích N1 - sinh năm: 1990. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số D, khóm T, phường T, thành phố S, tỉnh Đ.
2. Lê Huỳnh Minh T3 - sinh năm: 1988. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số B, đường T, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đ.
3. Trần Thị H1 - sinh năm: 1984. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số G, ĐT848, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đ.
4. Nguyễn Thị P - sinh năm: 1960. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số B, đường T, Khóm B, Phường D, thành phố S, tỉnh Đ.
5. Hồ Thị H2 - sinh năm: 1950. (vắng mặt)
6. Lê Thanh T4 - sinh năm: 1983. (vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: Số A, ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài, Hồ Minh T nảy sinh ý định tìm cách lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể T đã thực hiện 02 vụ như sau:
Vụ thứ nhất: Vào ngày 04/12/2023, T điện thoại cho Đỗ Long T1 (là bạn bè quen biết khi cùng chấp hành án tại Trại giam C1), nói dối là T có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max hiện đang cầm cố tại Cửa hàng Đ số 206, đường T, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đ, do không có tiền đóng lãi nên T muốn bán điện thoại lại cho T1 với giá 6.000.000 đồng, T1 đồng ý mua. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, T1 đưa cho Nguyễn Thị Liên H (vợ của T1) số tiền 6.000.000 đồng và kêu H giao tiền cho T, lấy điện thoại về sử dụng, nên H điện thoại hẹn gặp T. Sau đó, T cùng H đi đến Cửa hàng điện thoại di động Minh T3, T kêu H đứng trước cửa hàng chờ, còn T đi vào gặp Lê Huỳnh Minh T3 (chủ cửa hàng), T thuê Trung chuyển số tiền mặt 6.000.000 đồng vào tài khoản ví M cho T, T trả cho T3 chi phí chuyển tiền là 20.000 đồng và trả tiền nợ T3 trước đó 50.000 đồng, đồng thời T nói dối với T3 là người phụ nữ đứng trước cửa hàng (tức bà H) là vợ của T và căn dặn T3 đừng nói gì với H vì sợ H chửi mắng. Sau đó, T đi ra gặp H tiếp tục nói dối là T có việc bận nên đi trước và kêu H đứng chờ chủ cửa hàng sẽ mang điện thoại ra giao, H đồng ý và đứng đợi khoảng 20 phút nhưng không thấy ai giao điện thoại, H liền điện thoại cho T thì không liên lạc được. Biết đã bị T lừa đảo chiếm đoạt tiền, nên H bỏ đi về nhà. Đến ngày 28/02/2024, H đến Công an phường A trình báo sự việc. Riêng T sau khi chiếm đoạt được tiền của T1 và H, đã tiêu xài hết.
Vụ thứ hai: Vào ngày 25/02/2024, T thấy trên mạng xã hội Facebook có 01 tài khoản tên Trần Thanh V đăng thông tin bán 02 hai điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro và Iphone X, nên đã dùng tài khoản Facebook của T có tên là “Hồ Tú” và số thuê bao di động là 0767677865 liên hệ với ông Trần Thanh V (chủ tài khoản Facebook Trần Thanh V) để hỏi mua 02 điện thoại, ông V đồng ý bán. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, T hẹn ông V mang 02 điện thoại đến phòng số 14, nhà nghỉ H3, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đ để xem và đồng ý mua với giá 11.200.000 đồng, nên ông V giao 02 điện thoại cho T cất vào túi quần. Lúc này, T giả vờ nhờ ông V chở T đến trụ ATM của Ngân hàng TMCP V1 (V2) thuộc Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ để rút tiền trả cho ông V, nhưng thực tế T không có tiền trong tài khoản. T đi vào trụ ATM và điện thoại cho Lê Thị Kiều P1 là bạn đang thuê trọ chung phòng với T, nhờ P1 đến chở T đi công việc, P1 đồng ý. Khi P1 đến, lợi dụng lúc ông V không chú ý, T đi ra lên xe để P1 chở đi về phòng trọ. Khi phát hiện T lấy 02 điện thoại bỏ chạy đi, ông V đến Công an phường A trình báo sự việc.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T mang 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X đến Cửa hàng điện thoại di động Thảo N2 tại số D, khóm T, phường T, thành phố S, tỉnh Đ bán cho ông Nguyễn Lê T2 (chủ cửa hàng) với giá 2.000.000 đồng, tiêu xài hết. Còn lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Tú cất giữ tại nhà.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã thu giữ vật chứng, tài sản gồm:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, số S: G6TWR121JCLJ, không có sim, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng bên trong.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu trắng, số I: 353246104770252, không có sim, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng bên trong.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Vario, màu vàng, biển số 66CA-098.12, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng bên trong.
- - 01 bản photo ảnh chụp màn hình điện thoại của ông Trần Thanh V thể hiện các cuộc gọi giữa ông V với số điện thoại 0767.677.xxx của Hồ Minh T vào ngày 25/02/2024.
Đối với số tiền 6.000.000 đồng T chiếm đoạt của ông T1, bà H, T đã tiêu xài hết; điện thoại di động T sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, hiện T đã làm mất nên không thu giữ được.
Tại Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 07/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S kết luận:
- 1. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại X, màu trắng, đã qua sử dụng, đã thu hồi được. Thời điểm định giá ngày 25/02/2024 có giá là 3.566.667 đồng.
- 2. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 11 Pro, màu trắng, đã qua sử dụng, đã thu hồi được. Thời điểm định giá ngày 25/02/2024 có giá là 6.400.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 9.966.667 đồng.
Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, số Seri: G6TWR121JCLJ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu trắng, số Imel: 353246104770252, tất cả đều không có sim, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng bên trong, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã hoàn trả cho ông Trần Thanh V nhận lại xong.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Vario, màu vàng, biển số 66CA-098.12, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng bên trong, qua xác minh chủ sở hữu là ông Nguyễn Đức A giao xe cho ông Châu Thành N cho thuê. Ngày 24/02/2024 ông N cho Hồ Minh T thuê xe mô tô trên để sử dụng làm phương tiện đi lại, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã hoàn trả cho ông Nguyễn Đức A nhận lại xong.
- - Đối với 01 bản photo ảnh chụp màn hình điện thoại của ông Trần Thanh V thể hiện các cuộc gọi giữa ông V với số điện thoại 0767.677.xxx của Hồ Minh T vào ngày 25/02/2024 là tài liệu có liên quan đến vụ án, cần tiếp tục quản lý, lưu hồ sơ làm chứng cứ giải quyết vụ án.
Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSTPSÐ, ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, đã truy tố Hồ Minh T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, để xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong phần tranh luận giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị:
Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, với mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự: Buộc Hồ Minh T hoàn trả cho ông Nguyễn Lê T2 số tiền 2.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Tiếp tục quản lý, lưu hồ sơ 01 bản photo ảnh chụp màn hình điện thoại của ông Trần Thanh V thể hiện các cuộc gọi giữa ông V với số điện thoại 0767.677.xxx của Hồ Minh T vào ngày 25/02/2024.
Đối với Lê Thị Kiều P1, khi được T gọi điện thoại nhờ đến trụ ATM của Ngân hàng TMCP V1 (V2) thuộc Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ để chở đi công việc, P1 không biết T thực hiện hành vi phạm tội nên không xem xét xử lý đối với P1.
Đối với ông Nguyễn Lê T2 có hành vi mua tài sản do Hồ Minh T phạm tội mà có, tuy nhiên khi mua ông T2 không biết là tài sản T chiếm đoạt của người khác, nên không xem xét xử lý đối với ông T2.
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Minh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở kết luận: Vào các ngày 04/12/2023 và 25/02/2024, tại phía trước Cửa hàng Đ số 206, đường T, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đ và tại phòng số 14, Nhà nghỉ H3, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đ, lợi dụng lòng tin của các bị hại Đỗ Long T1, Nguyễn Thị Liên H, Trần Thanh V, bị cáo Hồ Minh T đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của anh T1, chị H số tiền 6.000.000 đồng và chiếm đoạt 02 điện thoại di động trị giá 9.966.667 đồng của anh V.
Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...”
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương.
Bị cáo có đủ sức khỏe, để lao động, tạo thu nhập hợp pháp cho bản thân; nhưng với bản tính lười lao động, lại muốn có tiền tiêu xài, bị cáo nhiều lần lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo đã từng bị xử phạt tù 03 lần, bị cáo nhận thức rõ hành vi vi phạm pháp luật phải bị xử lý. Nhưng sau thời gian chấp hành hình phạt, bị cáo vẫn không sửa đổi, chưa có ý thức chấp hành quy định của pháp luật, chưa từ bỏ được con đường phạm tội; điều đó cho thấy bị cáo xem thường pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng, được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ nêu trên, cùng phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xem xét có mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo; nhằm cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo được tiếp tục cải tạo, giáo dục trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật.
[5] Đối với Lê Thị Kiều P1, khi được T gọi điện thoại nhờ đến trụ ATM của Ngân hàng TMCP V1 (V2) thuộc Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ để chở đi công việc, P1 không biết T thực hiện hành vi phạm tội nên không xem xét xử lý đối với P1.
Đối với ông Nguyễn Lê T2 có hành vi mua tài sản do Hồ Minh T phạm tội mà có, tuy nhiên khi mua ông T2 không biết là tài sản T chiếm đoạt của người khác, nên không xem xét xử lý đối với ông T2.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Trần Thanh V đã nhận lại 02 điện thoại di động, không có yêu cầu gì, nên không xem xét giải quyết.
Bị hại Đỗ Long T1 và Nguyễn Thị Liên H không yêu cầu Hồ Minh T bồi thường số tiền đã chiếm đoạt 6.000.000 đồng, nên không xem xét giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Lê T2 có mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, số Seri: G6TWR121JCLJ do Hồ Minh T bán với giá 2.000.000 đồng, tài sản đã được thu hồi và hoàn trả cho bị hại, nên anh T2 yêu cầu Hồ Minh T trả lại số tiền 2.000.000 đồng, xét thấy yêu cầu của anh T2 là phù hợp, nên chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng:
Tiếp tục quản lý, lưu hồ sơ vụ án 01 bản photo ảnh chụp màn hình điện thoại của ông Trần Thanh V thể hiện các cuộc gọi giữa ông V với số điện thoại 0767.677.xxx của Hồ Minh T vào ngày 25/02/2024.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Hồ Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hồ Minh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tiếp tục quản lý, lưu hồ sơ vụ án 01 bản photo ảnh chụp màn hình điện thoại của ông Trần Thanh V thể hiện các cuộc gọi giữa ông V với số điện thoại 0767.677.xxx của Hồ Minh T vào ngày 25/02/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Hồ Minh T có nghĩa vụ bồi thường cho anh Nguyễn Lê T2 số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hồ Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị cáo được kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 04/6/2024. Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hoàng Anh |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông a lừa tiền ông b
