|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày 04-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tú.
Thẩm phán: Bà Trương Thị Đào Vi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Tuấn Anh, Ông Phan Văn Đáng và Ông Phan Xuân Nam.
Thư ký ghi biên bản phiên Tòa: Bà Lê Thị Tuyết -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Xuân Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, số A T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế đã xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 08/2024/TLST-HS, ngày 17 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Phương N, sinh ngày 03/6/1982 tại tỉnh Quảng Bình; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi cư trú và chỗ ở hiện tại: thôn D, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: nguyên là Giáo viên; con ông Lê Thanh H, sinh năm 1945 và bà Trần Thị T, sinh năm 1943; có vợ là Hoàng Thị Phước A, sinh năm 1985 và có 2 con sinh năm 2012 và năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 16/8/2023, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 19/8/2023 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- + Ông Hoàng Bá K, sinh năm 1963; nơi cư trú: thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
- + Ông Mai Văn N1, sinh năm: 1970; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Ông Hoàng Tấn V, sinh năm 1964; nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
2
- + Ông Lưu Văn H1, sinh năm 1971; nơi cư trú: xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
- + Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1969; nơi cư trú: Số D N, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- + Ông Phạm Văn Q, sinh năm: 1965; nơi cư trú: tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
- + Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1963; nơi cư trú: thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
- + Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm: 1962; nơi cư trú: Thôn D, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
- + Bà Phan Thị T2, sinh năm: 1974; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Bà Hoàng Thị Phước A, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn D, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- + Ông Phạm Hồng N2, sinh năm 1954; nơi cư trú: thôn T, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Bà Lê Thị M, sinh năm 1973, nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (bà M đồng thời là người làm chứng); có mặt.
- Người làm chứng:
- + Ông Hoàng Nam K1, sinh năm 1991, nơi cư trú: Trung đoàn Cảnh sát cơ động Trung bộ thuộc Bộ, đóng tại tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Bà Lê Thị M, sinh năm 1973, nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
- + Ông Chu Văn H2, sinh năm 1983; nơi cư trú: số H D, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- + Anh Dương Văn H3, sinh năm 1995 và chị Dương Thị Phương T3, sinh năm 2001; đều cùng nơi cư trú: Số D N, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; anh H3, chị T3 đều vắng mặt.
- + Ông Hoàng Thái S, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
3
Do muốn có tiền để chơi xổ số điện toán và tiêu xài cá nhân, trong khoảng thời gian từ ngày 25/7/2017 đến 13/8/2018, Lê Phương N đã đưa ra thông tin gian dối về việc mình có quen biết với những người có khả năng xin việc làm vào Chi cục Kiểm Ngư tại Đà Nẵng, Chi cục Kiểm ngư tại P, đi học tại trường T8 tại Quảng Nam, xin chuyển công tác, để chiếm đoạt số tiền tổng cộng là 2.286.780.000 đồng của 09 người có nhu cầu nhờ N xin việc cho người thân, cụ thể như sau:
- Ông Hoàng Bá K, sinh năm 1963; trú tại xã S, huyện T, tỉnh Quảng Bình, số tiền 450.000.000 đồng.
Vào tháng 5/2017, thông qua các mối quan hệ bạn bè, ông Hoàng Bá K nghe tin Lê Phương N có quen biết với những người có khả năng xin việc làm vào Cục Kiểm ngư và ngành Công an nên đã liên lạc với N để đặt vấn đề xin việc thì N đồng ý.
Đến ngày 25/7/2017, tại nhà của Lê Phương N ở thôn D, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế và ngày 10/01/2018, tại Trạm thu phí P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, ông Hoàng Bá K đã đưa cho N số tiền lần lượt là 200.000.000 đồng và 50.000.000 đồng cùng 01 bộ hồ sơ xin việc để nhờ N xin cho con trai là Hoàng Tiến Đ vào làm việc tại Chi cục Kiểm ngư đóng tại Đà Nẵng.
Vào ngày 02/6/2018, tại phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Hoàng Nam K1 (con trai ông K) tiếp tục đưa cho N số tiền 200.000.000 đồng để nhờ N xin cho K1 chuyển công tác từ Trung đoàn Cảnh sát cơ động-Bộ (đóng tại P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế) về Công an tỉnh Q.
- Ông Mai Văn N1, sinh năm: 1970; trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, số tiền 200.000.000đ.
Do biết ông Hoàng Bá K nhờ được người xin việc, anh Mai Văn N1 đến nhà ông K nhờ xin cho con gái anh N1 là Mai Thị H4 vào làm nhân viên y tế tại Chi cục Kiểm ngư đóng tại thành phố Đà Nẵng. Sau khi được N đồng ý và nói số tiền xin việc là 200.000.000 đồng, anh N1 đã đưa trước cho ông Hoàng Bá K 170.000.000 đồng.
Vào ngày 23/3/2018 và 18/4/2018, ông K chuyển vào tài khoản 4005205039930 của Lê Phương N tại ngân hàng Agribank huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế số tiền 60.000.000 đồng và 140.000.000 đồng (trong đó ông K tự bỏ thêm 30.000.000đ) cùng 01 bộ hồ sơ xin việc để nhờ N xin cho Mai Thị H4 vào làm nhân viên y tế tại Chi cục Kiểm ngư đóng tại Đà Nẵng.
- Ông Hoàng Tấn V, sinh năm 1964; trú tại phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, số tiền 200.000.000 đồng.
Vào đầu tháng 4/2018, thông qua các mối quan hệ bạn bè, ông Hoàng Tấn V biết được Lê Phương N có khả năng xin được việc làm nên đã liên lạc để nhờ N xin cho con trai là Hoàng Thái S vào làm việc tại Chi ngư tại P thì N đồng ý và yêu cầu ông V đưa số tiền 200.000.000đ.
4
Sau đó, vào ngày 11/4/2018, tại quán cơm ở đường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, ông V đã đưa cho N số tiền 200.000.000 đồng cùng 01 bộ hồ sơ xin việc.
- Ông Lưu Văn H1, sinh năm 1971; trú tại xã D, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, số tiền 450.000.000 đồng.
Vào cuối tháng 5/2018, Lê Phương N gặp ông Lưu Văn H1 và anh Chu Văn H2 ở quán ăn tại phường P, thị xã H. Sau khi nói chuyện và biết được ông H1 có con trai là Lưu Văn T4 đang đi nghĩa vụ Công an tại tỉnh Lâm Đồng, mới thi đại học chưa có kết quả, thì N đặt vấn đề sẽ xin cho đi học T4 Trung cấp Cảnh sát với giá 450.000.000đ thì ông H1 đồng ý.
Vào ngày 10/6/2018, tại nhà anh Chu Văn H2 ở H D, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, ông H1 đã đưa cho N số tiền 220.000.000 đồng, lúc này vợ N là chị Hoàng Thị Phước A cũng có mặt và cùng ký vào giấy mượn tiền. Đến ngày 13/8/2018, tại khách sạn trước sân bay N, thành phố Hà Nội, ông H1 tiếp tục đưa cho N số tiền 230.000.000 đồng cùng 01 bộ hồ sơ gồm học bạ và Chứng minh nhân dân của T4. Lúc này, không có mặt chị Hoàng Thị Phước A nhưng N tự ký và ghi tên vợ trong giấy mượn tiền.
- Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1969; trú tại phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, số tiền 300.000.000 đồng và 10.000 USD (tương đương 226.780.000 đồng). Tổng cộng là 526.780.000 đồng.
Vào tháng 4/2018, Lê Phương N gặp và biết được bà Nguyễn Thị Thanh T1 có con trai là Dương Văn H3 thi vào trường Công an nhưng không đậu, nên N đưa ra thông tin mình có quen biết với Hiệu trưởng trường T8 (đóng tại Quảng Nam) và đặt vấn đề sẽ xin cho H3 vào học trường trên với giá 700.000.000 đồng.
Vào ngày 28/8/2018 và 17/9/2018, tại nhà bà T1 ở D N, thành phố H, bà T1 đã đưa cho N số tiền lần lượt là 10.000 USD (đôla Mỹ) và 300.000.000 đồng.
- Năm 2017, Lê Phương N về quê ở xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình thì gặp ông Phạm Hồng N2 (Nam gọi bằng dượng) nên N đặt vấn đề nếu có ai muốn vào làm ngành Công an hoặc Kiểm ngư thì báo N3 xin giúp. Do N là cháu gọi vợ ông N2 bằng dì ruột, đồng thời là giáo viên nên ông N2 tin tưởng nhờ N xin việc cho 04 trường hợp và N đã chiếm đoạt của những người như sau:
6.1. Ông Phạm Văn Q, sinh năm: 1965; trú tại Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, số tiền 90.000.000 đồng.
Vào ngày 19/7/2017, ông N2 đã chuyển vào tài khoản 4005205039930 của Lê Phương N tại ngân hàng Agribank huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế số tiền 90.000.000 đồng để nhờ N xin cho con trai ông Phạm Văn Q là anh Phạm Văn Q1 vào học trường Trung cấp Cảnh sát giao thông ở Quảng Nam. Số tiền trên do ông Q đưa cho ông N2 vào ngày 16/7/2017.
5
6.2 Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1963; trú tại: xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, số tiền 100.000.000 đồng.
Vào ngày 04/01/2018, ông N2 chuyển vào tài khoản tại ngân hàng A của N số tiền 100.000.000 đồng để nhờ N xin cho con trai ông Nguyễn Văn C là anh Nguyễn Văn U vào làm việc tại Chi cục Kiểm ngư ở Kiên Giang. Số tiền trên do ông C đưa cho ông N2 ngày 28/12/2017.
6.3. Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm: 1962; trú tại: xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, số tiền 90.000.000 đồng.
Vào ngày 02/02/2018, ông N2 nhờ con gái là chị Phạm Thị T5 chuyển vào tài khoản của N số tiền 90.000.000 đồng để nhờ N xin cho con trai ông Nguyễn Thanh L là anh Nguyễn Thanh V1 vào làm việc tại Cục K3 ngư tại Kiên Giang. Số tiền trên do ông L đưa cho ông N2 vào cuối tháng 01/2018.
Sau khi chuyển tiền cho N thì ông N2 tiếp tục gửi 03 bộ hồ sơ của anh Phạm Văn Q1, Nguyễn Văn U và Nguyễn Thanh V1 vào cho N bằng đường bưu điện.
6.4. Bà Phan Thị T2, sinh năm: 1974; trú tại: xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, số tiền 180.000.000 đồng.
Ngày 22/9/2018, tại nhà của N, ông Phạm Hồng N2 tiếp tục đưa cho N số tiền 180.000.000 đồng cùng 01 bộ hồ sơ xin việc để nhờ N xin cho con trai bà Phan Thị T2 là anh Phan Thành L1 vào làm tại Vùng 3 Hải quân đóng tại Đà Nẵng. Số tiền trên do bà T2 đưa cho ông N2 ngày 16/9/2018.
Khi trực tiếp nhận tiền của những người bị hại và người liên quan đều viết Giấy mượn tiền hoặc Giấy nhận tiền và thỏa thuận nếu không xin được việc như đã hứa thì sẽ trả lại tiền để tạo lòng tin. Tuy nhiên, N không liên hệ xin việc cho ai mà bỏ trốn sang nước Lào để chiếm đoạt toàn bộ số tiền nêu trên.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T còn nhận được đơn tố cáo của anh Nguyễn Minh T6, sinh năm 1982; hộ khẩu thường trú: 7/1458 Đ, phường P, thành phố H; do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế chuyển đến, thể hiện Lê Phương N chiếm đoạt số tiền 139.000.000 đồng của anh T6. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh tại địa chỉ nêu trên nhưng không có ai trùng khớp thông tin nên đã ra Thông báo truy tìm người bị hại. Khi có kết quả sẽ tiếp tục điều tra xử lý theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 155/GĐ ngày 16/5/2019 của Phòng K4 Công an tỉnh T, kết luận: chữ ký, chữ viết mang tên Lê Phương N trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1 đến A5 (03 giấy vay tiền ngày 25/7/2017, 10/01/2018, 02/6/2018 và 02 giấy cam kết ngày 25/7/2017, 10/01/2018) so với chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Phương N trên tài liệu mẫu ký hiệu M1 đến M12 (01 Sơ yếu lý lịch Cán bộ công chức của Lê Phương N lập năm 2016; 04 Phiếu bổ sung lý lịch cán bộ, công chức của Lê Phương n lập năm 2014, 2016, 2017; 02 bản tự kiểm điểm cá nhân của Lê Phương N lập năm 2010; 05 Phiếu đánh giá Cán bộ công
6
chức, viên chức của Lê Phương N lập năm 2009, 2010, 2012, 2015 và 2018) do cùng một người ký, viết ra.
Tại Kết luận giám định số 156/GĐ ngày 16/5/2019 của Phòng K4 Công an tỉnh T, kết luận: chữ ký, chữ viết mang tên Lê Phương N trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1 đến A3 (01 giấy nhận tiền ngày 11/4/2018 và 02 giấy vay tiền ngày 10/6/2018, 13/8/2018) so với chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Phương N trên tài liệu mẫu ký hiệu M1 đến M12 do cùng một người ký, viết ra.
Tại Kết luận giám định số 434/GĐ ngày 16/5/2019 của Phòng K4 Công an tỉnh T, kết luận: chữ ký, chữ viết mang tên Lê Phương N trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 (02 giấy nhận tiền ngày 28/8/2018 và 17/9/2018) so với chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Phương N trên tài liệu mẫu ký hiệu M1 đến M12 do cùng một người ký, viết ra.
Tại Kết luận định giá số 2936/KL-HĐĐG ngày 18/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Thừa Thiên Huế, kết luận: 10.000 USD (đôla Mỹ) tại thời điểm ngày 28/8/2018 có giá trị là 226.780.000 đồng.
Về vật chứng thu giữ:
- 03 giấy vay tiền ngày 25/7/2017, 10/01/2018, 02/6/2018 có nội dung Lê Phương N mượn ông Hoàng Bá K số tiền lần lượt là 200.000.000, 50.000.000 đồng và 200.000.000 đồng; 02 giấy nộp tiền tại ngân hàng A vào ngày 23/3/2018 và 18/4/2018, có nội dung ông Hoàn Bá K2 chuyển vào tài khoản 4005205039930 của Lê Phương N tại Ngân hàng Agribank huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế số tiền là 60.000.000 đồng và 140.000.000 đồng.
- 01 giấy nhận tiền ngày 15/7/2018 có nội dung Lê Phương N nhận số tiền 200.000.000 đồng của ông Hoàng Tấn V.
- 02 giấy vay tiền vào ngày 10/6/2018 và 13/8/2018 có nội dung Lê Phương N mượn ông Lưu Văn H1 số tiền lần lượt là 220.000.000 và 230.000.000 đồng (có chữ ký của vợ N là chị Hoàng Thị Phước A).
- 02 giấy nhận tiền vào ngày 28/8/2018 và 17/9/2018, có nội dung Lê Phương N nhận số tiền 10.000 USD và 300.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Thanh T1.
- 01 mảnh giấy có nội dung vào ngày 22/9/2018 Lê Phương N nhận số tiền 180.000.000 đồng của ông Phạm Hồng N2; 03 giấy nộp tiền tại ngân hàng A vào các ngày 19/7/2018, 04/01/2018, 02/2/2018 có nội dung ông Phạm Hồng N2 và con gái là chị Phạm Thị T5 chuyển vào tài khoản 4005205039930 của Lê Phương N tại Ngân hàng A chi nhánh huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế số tiền lần lượt là 90.000.000 đồng, 100.000.000 đồng, 290.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự:
Ông Phạm Hồng N2 đã trả lại cho ông Phạm Văn Q 90.000.000đ, ông Nguyễn Văn C 100.000.000đ, bà Phan Thị T2 180.000.000đ và ông Nguyễn
7
Thanh L 60.000.000đ. Ông Hoàng Bá K đã trả lại cho anh Mai Văn N1 170.000.000đ.
Buộc Lê Phương N phải trả lại số tiền cho những người như sau: Ông Hoàng Bá K 650.000.000đ; ông Hoàng Tấn V 200.000.000đ; ông Lưu Văn H1 450.000.000đ; ông Nguyễn Thanh L 30.000.000đ; bà Nguyễn Thị Thanh T1 526.780.000đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Hồng N2 430.000.000đ.
- Về biện pháp cưỡng chế:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã tiến hành kê biên tài sản là thửa đất số 285, tờ bản đồ số 50, diện tích 217,6m2 và ngôi nhà trên đất đóng tại địa chỉ thôn D, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế do chị Hoàng Thị Phước A đứng tên trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hoàng Văn T7, bà Nguyễn Thị H5 ngày 19/9/2018. Giao cho chị A có trách nhiệm quản lý cho đến khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKSTTH-P1 ngày 16 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Lê Phương N về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Lê Phương N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; đề nghị xử phạt bị cáo Lê Phương N từ 13 (mười ba) năm tù đến 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án các vật chứng gồm: 03 giấy vay tiền ngày 25/7/2017, 10/01/2018, 02/6/2018 có nội dung Lê Phương N mượn ông Hoàng Bá K số tiền lần lượt là 200.000.000, 50.000.000 đồng và 200.000.000 đồng; 02 giấy nộp tiền tại ngân hàng A vào ngày 23/3/2018 và 18/4/2018, có nội dung ông Hoàn Bá K2 chuyển vào tài khoản 4005205039930 của Lê Phương N tại Ngân hàng Agribank huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế số tiền là 60.000.000 đồng và 140.000.000 đồng.
- - 01 giấy nhận tiền ngày 15/7/2018 có nội dung Lê Phương N nhận số tiền 200.000.000 đồng của ông Hoàng Tấn V.
- - 02 giấy vay tiền vào ngày 10/6/2018 và 13/8/2018 có nội dung Lê Phương N mượn ông Lưu Văn H1 số tiền lần lượt là 220.000.000 và 230.000.000 đồng (có chữ ký của vợ N là chị Hoàng Thị Phước A).
- - 02 giấy nhận tiền vào ngày 28/8/2018 và 17/9/2018, có nội dung Lê Phương N nhận số tiền 10.000 USD và 300.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Thanh T1.
8
- - 01 mảnh giấy có nội dung vào ngày 22/9/2018 Lê Phương N nhận số tiền 180.000.000 đồng của ông Phạm Hồng N2; 03 giấy nộp tiền tại ngân hàng A vào các ngày 19/7/2018, 04/01/2018, 02/2/2018 có nội dung ông Phạm Hồng N2 và con gái là chị Phạm Thị T5 chuyển vào tài khoản 4005205039930 của Lê Phương N tại Ngân hàng A, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế số tiền lần lượt là 90.000.000 đồng, 100.000.000 đồng, 290.000.000 đồng.
Đề nghị tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T để đảm bảo thi hành án.
Những người bị hại có mặt tại phiên tòa (ông Lưu Văn H1, ông Hoàng Bá K, ông Hoàng Tấn V) đều yêu cầu Hội đồng xét xử buộc bị cáo N phải bồi thường đủ các khoản tiền đã chiếm đoạt. Đối với bà Lê Thị M (vợ ông Lưu Văn H1) yêu cầu vợ của bị cáo N là Hoàng Thị Phước A phải có trách nhiệm cùng với bị cáo bồi thường số tiền 220.000.000 đồng mà vợ chồng bà M đã giao tại nhà anh Chu Văn H2 ở H đường D, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vì khi nhận tiền vợ chồng bị cáo đều ký xác nhận trong giấy này.
Bà Hoàng Thị Phước A (vợ của bị cáo N) đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đối với thửa đất số 285, tờ bản đồ số 50, diện tích 217,6m2 và ngôi nhà trên đất đóng tại địa chỉ thôn D, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế do bà Hoàng Thị Phước A đứng tên trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hoàng Văn T7, bà Nguyễn Thị H5 ngày 19/9/2018. Bà A cho rằng đây là tài sản riêng của bà, không phải là tài sản chung của vợ chồng; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hoàn cảnh bà đang bị bệnh ung thư vú và phải nuôi hai con nhỏ.
Ý kiến và lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo Lê Phương N thừa nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về phần luận tội. Bị cáo xin lỗi những người bị hại và vợ (Hoàng Thị Phước A); đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
9
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa, bị cáo Lê Phương N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết như bản Cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ ngày 25/7/2017 đến 13/8/2018, Lê Phương N mặc dù không có chức năng, không có khả năng xin học, xin vào làm việc, chuyển công tác trong ngành kiểm ngư, Công an; nhưng N đã tự đưa ra các thông tin gian dối về việc mình có quen biết với những người có khả năng xin việc làm vào các Chi cục Kiểm ngư và đi học tại trường T8, chuyển công tác trong ngành Công an, làm cho nhiều người tin tưởng đưa tiền nhờ N giúp đỡ, để nhiều lần chiếm đoạt của 09 người bị hại với số tiền tổng cộng là 2.286.780.000 đồng; sau đó sử dụng tiền chiếm đoạt được mua vé xổ số điện toán Vietlott và tiêu xài cá nhân. Gồm: Ông Hoàng Bá K 450.000.000 đồng, ông Mai Văn N1 200.000.000 đồng, ông Hoàng Tấn V 200.000.000 đồng, ông Lưu Văn H1 450.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Thanh T1 526.780.000 đồng, ông Phạm Văn Q 90.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn C 100.000.000 đồng, ông Nguyễn Thanh L 90.000.000 đồng và bà Phan Thị T2 180.000.000 đồng.
Với hành vi nêu trên của bị cáo N, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Lê Phương N, nhận thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã từng là giáo viên nhưng không chịu khó tu dưỡng, rèn luyện bản thân; bị cáo nhận thức được hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi, muốn có tiền tiêu xài không chính đáng nên dẫn đến việc phạm tội. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội, gây bất ổn trong nhân dân. Sau khi đã chiếm đoạt được tiền của các bị hại, bị cáo đã bỏ trốn sang nước Lào từ tháng 10/2018 cho đến khi bị bắt theo Lệnh truy nã, gây khó khăn cản trở cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, cần phải có mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo N được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, ông Lê Thanh H (bố của bị cáo) có xuất trình “Đơn xin xác nhận người có công”, trình bày gia đình bị cáo có nhiều người có công với cách mạng, tuy nhiên không có các tài liệu gửi kèm theo, nên Hội đồng
10
xét xử không có căn cứ để xem xét. Đối với bà Hoàng Thị Phước A (vợ của bị cáo) có xuất trình các tài liệu của bệnh viện thể hiện đang điều trị bệnh ung thư.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nam phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở đánh giá nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, ông Phạm Hồng N2 đã trả lại cho ông Phạm Văn Q 90.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn C 100.000.000đ đồng, bà Phan Thị T2 180.000.000 đồng và ông Nguyễn Thanh L 60.000.000 đồng. Ông Hoàng Bá K đã trả lại cho anh Mai Văn N1 170.000.000 đồng. Ông Q, ông C, bà T2, ông N1 xác nhận đã nhận đủ số tiền nói trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã chiếm đoạt. Xét thấy yêu cầu của các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận, buộc bị cáo Lê Phương N trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, cụ thể như sau: bị cáo N phải trả lại cho ông Hoàng Bá K 650.000.000 đồng; ông Hoàng Tấn V 200.000.000 đồng; ông Lưu Văn H1 450.000.000 đồng (trong đó có khoản tiền 220.000.000 đồng do bà Hoàng Thị Phước A cùng với bị cáo cùng trực tiếp ký nhận khoản tiền 220.000.000 đồng của ông Lưu Văn H1 tại nhà anh Chu Văn H2, nên bà A phải có nghĩa vụ liên đới cùng với bị cáo trả lại khoản tiền này cho ông H1 theo phần bằng nhau); ông Nguyễn Thanh L 30.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị Thanh T1 526.780.000 đồng và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Hồng N2 430.000.000 đồng. Do vậy, tổng số tiền bị cáo phải trả lại cho các bị hại là 2.176.780.000 đồng; bà Hoàng Thị Phước A phải trả cho ông Lưu Văn H1 110.000.000 đồng.
Đối với Lệnh kê biên tài sản số 07/PC01 ngày 09/9/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đối với thửa đất số 285, tờ bản đồ số 50, diện tích 217,6 m² tọa lạc tại thôn D, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, hiện đang giao cho bà Hoàng Thị Phước A (vợ của bị cáo quản lý) để đảm bảo thi hành án. Hội đồng xét xử xét thấy: lời khai của bị cáo N và bà A tại phiên tòa cho rằng đây là tài sản riêng của bà A, vì khi nhận chuyển nhượng đất và xây nhà thì có cha mẹ bà A, các anh em góp tiền cho, có vay thêm tiền của ngân hàng và một khoản tiền trước đây đã bán nhà, đất của vợ chồng. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thể hiện không có tài liệu, chứng cứ chứng minh đây là tài sản riêng của bà A, trong khi quan hệ hôn nhân của bị cáo và vợ (bà A) còn tồn tại, nên vẫn là tài sản chung của vợ chồng bị cáo. Do vậy, cần tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản
11
số 07/PC01 ngày 09/9/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T để đảm bảo thi hành án.
[6] Về xử lý vật chứng gồm có:
- 03 giấy vay tiền ngày 25/7/2017, 10/01/2018, 02/6/2018 có nội dung Lê Phương N mượn ông Hoàng Bá K số tiền lần lượt là 200.000.000, 50.000.000 đồng và 200.000.000 đồng; 02 giấy nộp tiền tại ngân hàng A vào ngày 23/3/2018 và 18/4/2018, có nội dung ông Hoàn Bá K2 chuyển vào tài khoản 4005205039930 của Lê Phương N tại Ngân hàng Agribank huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế số tiền là 60.000.000 đồng và 140.000.000 đồng.
- 01 giấy nhận tiền ngày 15/7/2018 có nội dung Lê Phương N nhận số tiền 200.000.000 đồng của ông Hoàng Tấn V.
- 02 giấy vay tiền vào ngày 10/6/2018 và 13/8/2018 có nội dung Lê Phương N mượn ông Lưu Văn H1 số tiền lần lượt là 220.000.000 và 230.000.000 đồng (có chữ ký của vợ N là chị Hoàng Thị Phước A).
- 02 giấy nhận tiền vào ngày 28/8/2018 và 17/9/2018, có nội dung Lê Phương N nhận số tiền 10.000 USD và 300.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Thanh T1.
- 01 mảnh giấy có nội dung vào ngày 22/9/2018 Lê Phương N nhận số tiền 180.000.000 đồng của ông Phạm Hồng N2; 03 giấy nộp tiền tại ngân hàng A vào các ngày 19/7/2018, 04/01/2018, 02/2/2018 có nội dung ông Phạm Hồng N2 và con gái là chị Phạm Thị T5 chuyển vào tài khoản 4005205039930 của Lê Phương N tại Ngân hàng A, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế số tiền lần lượt là 90.000.000 đồng, 100.000.000 đồng, 290.000.000 đồng.
Xét đây là các tài liệu chứa đựng chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[7] Về các vấn đề khác: Đối với bà Hoàng Thị Phước A, khi vợ chồng ông Lưu Văn H1, bà Lê Thị M đưa cho bị cáo N 220.000.000 đồng tại nhà anh Chu Văn H2 vào ngày 10/5/2018 thì bà A cũng có mặt và cùng ký vào giấy mượn tiền, nhưng bà A không biết mục đích lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của bị cáo N, nên các cơ quan tiến hành tố tụng không xem xét trách nhiệm hình sự của bà A.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo Lê Phương N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng. Án phí dân sự sơ thẩm là : (72.000.000 + 2% X 176.780.000) = 75.535.600 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Phương N phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
12
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Phương N 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 16/8/2023).
- Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Lê Phương N phải bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt là 2.176.780.000 đồng cho những người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cụ thể như sau: bồi thường cho ông Hoàng Bá K 650.000.000 đồng; ông Hoàng Tấn V 200.000.000 đồng; ông Lưu Văn H1 340.000.000 đồng; ông Nguyễn Thanh L 30.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị Thanh T1 526.780.000 đồng; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Hồng N2 430.000.000 đồng. Bà Hoàng Thị Phước A phải trả lại cho ông Lưu Văn H1 110.000.000 đồng.
Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản số 07/PC01 ngày 09/9/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đối với thửa đất số 285, tờ bản đồ số 50, diện tích 217,6 m² tọa lạc tại thôn D, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, hiện đang giao cho bà Hoàng Thị Phước A quản lý để đảm bảo thi hành án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuyên xử:
Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án các vật chứng gồm: 03 giấy vay tiền ngày 25/7/2017, 10/01/2018, 02/6/2018 có nội dung Lê Phương N mượn ông Hoàng Bá K số tiền lần lượt là 200.000.000, 50.000.000 đồng và 200.000.000 đồng; 02 giấy nộp tiền tại ngân hàng A vào ngày 23/3/2018 và 18/4/2018, có nội dung ông Hoàn Bá K2 chuyển vào tài khoản 4005205039930 của Lê Phương N tại Ngân hàng Agribank huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế số tiền là 60.000.000 đồng và 140.000.000 đồng;
13
- - 01 giấy nhận tiền ngày 15/7/2018 có nội dung Lê Phương N nhận số tiền 200.000.000 đồng của ông Hoàng Tấn V;
- - 02 giấy vay tiền vào ngày 10/6/2018 và 13/8/2018 có nội dung Lê Phương N mượn ông Lưu Văn H1 số tiền lần lượt là 220.000.000 và 230.000.000 đồng (có chữ ký của vợ N là chị Hoàng Thị Phước A);
- - 02 giấy nhận tiền vào ngày 28/8/2018 và 17/9/2018, có nội dung Lê Phương N nhận số tiền 10.000 USD và 300.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Thanh T1;
- - 01 mảnh giấy có nội dung vào ngày 22/9/2018 Lê Phương N nhận số tiền 180.000.000 đồng của ông Phạm Hồng N2; 03 giấy nộp tiền tại ngân hàng A vào các ngày 19/7/2018, 04/01/2018, 02/2/2018 có nội dung ông Phạm Hồng N2 và con gái là chị Phạm Thị T5 chuyển vào tài khoản 4005205039930 của Lê Phương N tại Ngân hàng A, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế số tiền lần lượt là 90.000.000 đồng, 100.000.000 đồng, 290.000.000 đồng.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Phương N chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 75.535.600 đồng (bảy mươi lăm triệu năm trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký và đóng dấu) Trần Ngọc Tú |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 04/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
