|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST Ngày 27 tháng 8 năm 2024 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hòa Thanh
- Các Hội thẩm nhân dân:
. Ông Đỗ Ngọc Qúy
. Ông Thạch Nguyễn Mai Thiện Bảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Qúy Võ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Sử - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 148/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Xuân N - sinh năm: 1987; Địa chỉ: Thôn HL, xã VL, huyện VN, tỉnh KH. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Trịnh Ngọc Q - sinh năm: 1983; trú tại: Thôn HL, xã VL, huyện VN, tỉnh KH. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 14 tháng 3 năm 2024, Biên bản lấy lời khai ngày 14/6/2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đỗ Thị Xuân N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông Trịnh Ngọc Q tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2010 và đến năm 2017 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VL, huyện VN, tỉnh KH. Giấy chứng nhận kết hôn số 07 cấp ngày 06/02/2017.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 01/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do giữa vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống, tính tình vợ chồng không hợp, không tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau và do ông Q không chăm sóc gia đình nên giữa vợ chồng xảy ra xích mích, cãi vã. Từ tháng 01/2024 vợ chồng đã mạnh ai nấy sống không ai quan tâm gì đến ai. Bà N xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa. Bà N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung là Trịnh Gia K - sinh ngày 05/01/2010 và Trịnh Ngọc B - sinh ngày 10/11/2020. Bà N yêu cầu khi vợ chồng ly hôn thì được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi con chung lần lượt đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ của ai, không ai nợ của vợ chồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là ông Trịnh Ngọc Q đến Tòa để trình bày ý kiến về việc bà N khởi kiện, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông Q đều không có mặt nên Toà án không lấy được lời khai của ông Q, không tiến hành hòa giải được vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh phát biểu ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà N yêu cầu ly hôn với ông Q - hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn HL, xã VL, huyện VN, tỉnh KH nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Bị đơn ông Q đã được Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Q.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Mặc dù bị đơn ông Q vắng mặt tại phiên tòa, nhưng căn cứ vào lời khai của bà N và các chứng cứ đã thu thập được thì việc kết hôn giữa bà Đỗ Thị Xuân N và ông Trịnh Ngọc Q là tự nguyện, đăng ký kết hôn số 07 ngày 06 tháng 02 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã VL, huyện VN, tỉnh KH, nên quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông Q là hợp pháp.
Căn cứ lời khai của bà N, biên bản xác minh thì vợ chồng bà N, ông Q hiện nay không còn sống chung với nhau nữa, vợ chồng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Q đến Tòa để giải quyết ly hôn giữa hai người nhưng ông Q đều không có mặt, chứng tỏ ông Q không còn quan tâm gì về quan hệ hôn nhân này nữa. Về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa bà N và ông Q theo bà N trình bày là do tính tình vợ chồng không hợp, không tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau nên vợ chồng thường xảy ra xích mích, cãi vã. Vợ chồng đã mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm gì đến ai. Nên có cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc bà N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của bà N.
[3] Về con chung: Bà N, ông Q có 02 (hai) con chung là Trịnh Gia K - sinh ngày 05/01/2010 và Trịnh Ngọc B - sinh ngày 10/11/2020. Bà N yêu cầu khi vợ chồng ly hôn thì được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy: Các con chung hiện đang do bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu K yêu cầu được sống chung với mẹ, cháu B còn nhỏ, vì vậy việc giao cho bà N được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của bà N. Bà N không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[4] Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về nợ chung: Bà N xác nhận vợ chồng không nợ chung của ai, không ai nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Bị đơn ông Q mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án để trình bày ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn và cũng không hòa giải được vụ án. Vì vậy, không có cơ sở để giải quyết yêu cầu của ông Q.
[7] Về án phí: Bà N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Bà Đỗ Thị Xuân N được ly hôn với ông Trịnh Ngọc Q.
- Về con chung: Giao cho bà N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung là Trịnh Gia K - sinh ngày 05/01/2010 và Trịnh Ngọc B - sinh ngày 10/11/2020 cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi và bà N không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
Ông Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết bà N, ông Q có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà Đỗ Thị Xuân N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Đỗ Thị Xuân N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007028 ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VN; bà N đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
* Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Võ Thị Hòa Thanh |
Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
