TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22-8-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Hồng và anh Phát”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Thùy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hưng.
Ông Nguyễn Kim Khánh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 56/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 28/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- Bị đơn: Anh Huỳnh Tấn P, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
(Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn – chị Huỳnh Thị Kim H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tại đơn khởi kiện đề ngày 01-3-2024 và quá trình tham gia tố tụng chị trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Huỳnh Tấn P tiến đến hôn nhân tự nguyện, năm 2014 đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện N. Từ năm 2019, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh P có hành vi đánh đập, đe dọa tính mạng, sức khỏe của chị. Hai vợ chồng vì mâu thuẫn trầm trọng nên có thời gian không sống chung nhưng sau đó có quay lại thử hàn gắn tình cảm nhưng không thể vì không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn
với anh P.
- Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Huỳnh Ngọc Nhã P1, sinh ngày 02/4/2017. Tại đơn khởi kiện, chị đề nghị được quyền trực tiếp nuôi cháu P1 và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nhưng quá trình giải quyết chị thay đổi ý kiến và đề nghị giao cháu P1 cho anh P chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Tại phiên tòa sơ thẩm, dù được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng bị đơn – anh Huỳnh Tấn P vắng mặt không lý do. Quá trình tham gia tố tụng anh trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận quan hệ vợ chồng như chị H trình bày. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thỉnh thoảng có cãi vã, bất đồng nhưng mâu thuẫn không có gì trầm trọng. Tuy hiện tại không còn sống chung nhưng anh vẫn còn thương yêu chị H, vẫn muốn hàn gắn tình cảm nên không đồng ý ly hôn mà đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng về đoàn tụ.
- Về nuôi con chung: Anh chị có 01 con chung là Huỳnh Ngọc Nhã P1, sinh ngày 02/4/2017. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh xin quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P1 và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, số nợ chung: Anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự:
Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình.
- Về việc giải quyết vụ án:
Tình trạng hôn nhân của chị H và anh P đã mâu thuẫn trầm trọng. Nay chị H xin giải quyết cho ly hôn với anh P, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng: Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 146, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị H, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H được ly hôn với anh P.
- Về con chung: Giao con chung là Huỳnh Ngọc Nhã P1, sinh ngày 02/4/2017 cho anh Huỳnh Tấn P chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét.
- Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng:
- [1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp:
Chị Huỳnh Thị Kim H khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Huỳnh Tấn P và giải quyết vấn đề con chung, không yêu cầu giải quyết vấn đề tài sản chung và nợ chung. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- [1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bị đơn – anh Huỳnh Tấn P có địa chỉ cư trú tại thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
- [1.3] Xử lý về sự vắng mặt của đương sự:
Chị Huỳnh Thị Kim H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh Huỳnh Tấn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không lý do, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận thấy:
- [2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Huỳnh Thị Kim H và anh Huỳnh Tấn P tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện N theo Giấy chứng nhận kết hôn số 140 ngày 15/12/2014. Căn cứ Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hôn nhân giữa chị H và anh P là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, chị H trình bày nguyên nhân mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm, hay cãi vã, bị anh P đánh đập, hiện không còn sống chung, mâu thuẫn đến mức trầm trọng nên đề nghị giải quyết cho ly hôn với anh P.
Quá trình giải quyết, anh P trình bày rằng vợ chồng tuy thỉnh thoảng có cãi vã nhưng mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng, mặc dù không còn chung sống nhưng anh vẫn còn thương yêu chị H. Do đó, anh không đồng ý ly hôn mà muốn đoàn tụ, hàn gắn tình cảm. Qua xác minh tại địa phương thể hiện anh chị vì mâu thuẫn nên không còn chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được.
Xét thấy: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, có nghĩa vụ sống chung với nhau, tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau nhưng hai người không còn sống chung, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ này cũng không đạt được mục đích hôn nhân.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử sơ thẩm đủ cơ sở kết luận: Hôn
nhân giữa chị H và anh P lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh P là có cơ sở, phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nên được Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận.
- [2.2] Về con chung:
Chị H và anh P có 01 con chung là Huỳnh Ngọc Nhã P1, sinh ngày 02/4/2017. Khi ly hôn, cả chị H và anh P đều thống nhất giao cháu P1 cho anh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu P1 cũng nguyện vọng ở với ba (anh P), không ai có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Xét ý kiến của chị H, anh P, nguyện vọng của con chung, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy giao cho anh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P1 là phù hợp. Không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét.
- [2.3] Về tài sản chung, nợ chung:
Các đương sự không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét.
- [3] Về án phí:
Chị Huỳnh Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- [4] Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo:
Chị Huỳnh Thị Kim H và anh Huỳnh Tấn P được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào Điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Kim H.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1991 và anh Huỳnh Tấn P, sinh năm 1987.
- Về nuôi con chung: Giao 01 con chung tên Huỳnh Ngọc Nhã P1, sinh ngày 02/4/2017 cho anh Huỳnh Tấn P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Huỳnh Thị Kim H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được
sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Các bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
2. Về án phí:
Chị Huỳnh Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số 0002002 ngày 27/3/2024. Chị Huỳnh Thị Kim H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo:
Nguyên đơn – Chị Huỳnh Thị Kim H và Bị đơn – Anh Huỳnh Tấn P vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Thùy Dung |
5
Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 39 HỒNG - PHÁT 22.8 - NĐ xin vắng, BĐ ko đồng ý
