Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỦ LÝ

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08 - 10 - 2024

V/v: Kiện xin ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chương và ông Lê Chí Trung.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hông Liên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024, về việc: “Kiện xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị X, sinh năm 1990.
  2. Bị đơn: Anh Lại Quang Đ, sinh năm 1990.

Cùng địa chỉ: Số nhà 26, tổ dân phố H, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam.

(Tại phiên tòa vắng mặt chị X có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Đ vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Vũ Thị Xuân trình bày:

Chị và anh Lại Quang Đ kết hôn hoàn toàn tự nguyện, trước khi kết hôn anh chị có được tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Châu Sơn (nay là phường Châu Sơn), thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam vào ngày 25 tháng 02 năm 2013, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống không có hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân nhau từ tháng 05/2024 đến nay, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lại Quang Đ.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Lại Hoàng N, sinh ngày 06/9/2013 (con trai) và cháu Lại Trường G, sinh ngày 24/02/2017 (con trai). Hiện 02 cháu đều đang ở với chị, khi ly hôn chị xin được nuôi cả 02 con chung và yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000 đồng/ tháng đối với 02 cháu.

Con nuôi, con riêng: Chị X xác định không có. Hiện chị X không có thai nghén gì.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị X xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Lại Quang Đ đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, không có mặt tại Tòa án để làm việc. Vì vậy, không có quan điểm của anh Đ.

* Tại các bản tự khai đề ngày 01/7/2024, các cháu Lại Hoàng N và Lại Trường G đều có nguyện vọng xin được ở với chị X.

* Tại biên bản làm việc ngày 14/8/2024, bà Trần Thị L là mẹ đẻ của anh Lại Quang Đ trình bày: Anh Lại Quang Đ và chị Vũ Thị X tự nguyện kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn tại UBND xã Châu Sơn (nay là phường Châu Sơn), thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam vào ngày 25/02/2013. Trước khi kết hôn, vì là hàng xóm với nhau nên anh chị có thời gian tìm hiểu nhau rất lâu mới đi đến hôn nhân và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Quá trình vợ chồng anh chị chung sống thì anh Đ thỉnh thoảng có uống rượu bia nên khi về nhà thì có to tiếng với vợ con. Nay chị X xin ly hôn anh Đ, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung vợ chồng anh chị có 02 con chung như chị X trình bày là đúng. Khi ly hôn bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên toà:

- Nguyên đơn chị Vũ Thị X vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, ngày 08/10/2024 chị X có đơn đề nghị thay đổi quan điểm về việc cấp dưỡng nuôi con chung, chị xin được nuôi cả hai con chung là cháu Lại Hoàng N và Lại Trường G và không yêu cầu anh Lại Quang Đ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

- Bị đơn anh Lại Quang Đ vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng; ý kiến về việc giải quyết vụ án:

+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng; xác minh thu thập chứng cứ đúng quy định đúng quy định; tổ chức phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đúng quy định; ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng đều vắng mặt không lý do, không chấp hành và thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Sau khi trình bày và phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xem xét ý kiến, nguyện vọng và đánh giá tình trạng hôn nhân nhân của các bên đương sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Vũ Thị X.

Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị X và anh Lại Quang Đ.

Về con chung: Giao chị Vũ Thị X trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là cháu Lại Hoàng N, sinh ngày 06/9/2013 và cháu Lại Trường G, sinh ngày 24/02/2017. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị X.

Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị X phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét thấy bị đơn anh Lại Quang Đ có địa chỉ cư trú tại tổ dân phố H, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam nên yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị X thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Nguyên đơn vắng mặt có lý do và đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng đều vắng mặt không lý do. Vì vậy việc xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa là phù hợp với quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung: Chị Vũ Thị X và anh Lại Quang Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Châu Sơn (nay là phường Châu Sơn), thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam vào ngày 25 tháng 02 năm 2013, đã thỏa mãn với điều kiện, thủ tục kết hôn được Luật hôn nhân và gia đình bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Vũ Thị X, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi kết hôn thì cuộc sống của vợ chồng anh chị không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra va chạm, mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng anh chị bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, bên cạnh đó anh Đ làm nghề lái xe, thỉnh thoảng có uống bia rượu về lại to tiếng với chị X. Vợ chồng anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử ly hôn giữa chị X và anh Đ là phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là các cháu Lại Hoàng N, sinh ngày 06/9/2013 và Lại Trường G, sinh ngày 24/02/2017, hiện cả hai cháu đều đang ở với chị X. Khi ly hôn chị X xin nuôi cả hai cháu và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000 đồng/02 cháu/ 1 tháng. Ngày 08/10/2024, chị X có đơn thay đổi quan điểm, chị không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị nữa. Xét thấy, hiện anh Đ làm nghề tự do, công việc và thu nhập không ổn định, còn chị X có công việc và thu nhập ổn định, việc chị X thay đổi quan điểm là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, để ổn định cuộc sống của các cháu, cần giao cả hai cháu cho chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Đ không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị X là phù hợp với thực tế, phù hợp với nguyện vọng của các cháu và phù hợp với quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Con nuôi, con riêng: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung: Chị X không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Vũ Thị X phải nộp theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 238, 271, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị X và anh Lại Quang Đ.
  2. Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị X trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung là cháu Lại Hoàng N, sinh ngày 06/9/2013 (con trai) và cháu Lại Trường G, sinh ngày 24/02/2017 (con trai) cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Lại Quang Đ không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Xuân.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Vũ Thị X phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng. Chuyển số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà chị X đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam theo biên lai số 0000418 ngày 12 tháng 6 năm 2024 thành án phí chị phải nộp. Chị Xuân đã nộp đủ án phí.
  2. Quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị X, anh Lại Quang Đ vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND thành phố Phủ Lý;
  • - Chi cục THADS TP Phủ Lý;
  • - UBND phường Châu Sơn, TP Phủ Lý;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)




Nguyễn Thị Kim Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 08/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM về kiện xin ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện xin ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị X - Lại Quang Đ - Kiện ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger