|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 6 - 2024. V/v tranh chấp ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phấn
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Bà Nguyễn Thị Đẹp
2. Ông Nguyễn Văn Minh
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Bích Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 102/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình về không công nhận quan hệ vợ chồng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1979
Địa chỉ: Số B Lô C, KDC khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ.
Bị đơn: Anh Huỳnh Trần Liễu Minh N, sinh năm 1972
Địa chỉ: Số B Lô C, KDC khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày:
Về quan hệ vợ chồng: Chị B và anh N tự quen biết tìm hiểu nhau được khoảng 06 tháng thì tiến tới hôn nhân chung sống như vợ chồng từ năm 2011, không có tổ chức đám cưới, không có làm thủ tục đăng ký kết hôn do lúc đó anh N đi bộ đội không có giấy tờ. Hơn nữa trước khi chung sống với nhau chị B và anh N đều đã chung sống như vợ chồng với người khác, do đó không đi làm giấy kết hôn. Quá trình vợ chồng chung sống không được hạnh phúc, nguyên nhân do anh N không lo làm ăn mà tham gia cờ bạc, gây nợ nần, vợ chồng thường gây gổ. Nhiều lần chị B khuyên can nhưng anh N không sửa đổi. Mặc dù vợ chồng vẫn đang sống chung nhà nhưng không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Nhận thấy tình cảm đối với anh N không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị B yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng với anh N vì chị B và anh N không có đăng ký kết hôn.
Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Ngọc H, sinh ngày 05/12/2012, hiện con đang sống chung với chị B và anh N. Khi ly hôn, chị B yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con, chị B không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị B không còn yêu cầu, ý kiến gì khác.
* Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án bị đơn anh Huỳnh Trần Liễu Minh N trình bày:
Về quan hệ vợ chồng: Anh N thống nhất với lời trình bày của chị B về thời gian tìm hiểu, chung sống như vợ chồng mà không có làm thủ tục đăng ký kết hôn. Nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn là do là cách đây khoảng 5-6 năm trước mẹ anh N bệnh anh N có tự ý mượn một số tiền 150.000.000đ mà không có bàn bạc với chị B, mục đích để lo cho mẹ anh N mổ tại bệnh viện C, đồng thời anh N cũng có lấy ít tiền đó đi cờ bạc để thử vận may. Sau khi chị B biết thì vợ chồng cự cãi nên đòi ly hôn. Anh N có xin chị B tha thứ nhưng chị B không đồng ý. Nay anh N xác định còn thương vợ, anh N không đồng ý ly hôn, anh N xin thời gian sửa đổi là 01 năm, nếu sau 01 năm anh N không sửa đổi thì anh N chấp nhận ly hôn với chị B.
Về nuôi con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Ngọc H, sinh ngày 05/12/2012, hiện con đang sống chung với chị B và anh N. Trường hợp phải ly hôn, anh N đồng ý để chị B được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con, anh N không cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, anh N không còn yêu cầu, ý kiến gì khác.
* Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 23/5/2024, con của chị B và anh N là cháu Nguyễn Huỳnh Ngọc H, sinh ngày 05/12/2012 trình bày: Nếu cha và mẹ ly hôn, không sống chung với nhau thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ là chị B.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị B, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị B và anh Huỳnh Trần Liễu Minh N.
Về nuôi con chung: Đề nghị HĐXX giao con chung tên Nguyễn Huỳnh Ngọc H, sinh ngày 05/12/2012 cho chị B nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con do chị B không yêu cầu nên không xem xét.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Đề nghị HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Đề nghị HĐXX xem xét theo quy định pháp luật. (Có bài phát biểu kèm theo).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại Phường B, thành phố S, Đồng Tháp. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.
[2] Về nội dung, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị B và anh N chung sống như vợ chồng từ năm 2011, trên cơ sở tự nguyện, tuy có đủ điều kiện kết hôn nhưng anh, chị không có đăng ký kết hôn. Do đó, quan hệ hôn nhân của chị B và anh N là không hợp pháp, vi phạm Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý...”.
Đồng thời, tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. N1, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”.
Lẽ ra, trong quá trình chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2011 đến nay, chị B và anh N phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn để được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp, nhưng anh chị đã không tuân thủ việc kết hôn theo quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa anh chị không có giá trị về mặt pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Hơn nữa, trong quá trình chung sống với nhau, giữa chị B và anh N đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên gây gỗ cự cãi, anh N tham gia cờ bạc không quan tâm chăm sóc gia đình. Dẫn đến tình cảm ngày càng bị tổn thương rạn nứt, không thể hàn gắn. Về phía anh N thừa nhận có mượn tiền của người khác để tham gia cờ bạc mà không bàn bạc với chị B, dẫn đến vợ chồng cự cãi, tuy nhiên anh N xác định vẫn còn tình cảm với chị B mong chị B cho anh N cơ hội để sửa đổi.
Hội đồng xét xử xét thấy trong cuộc sống vợ chồng giữa chị B và anh N không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẽ với nhau, vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cự cãi. Tại phiên tòa hôm nay, chị B xác định không tình cảm với anh N, không muốn tiếp tục chung sống như vợ chồng với anh N và vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn anh N. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị đã trầm trọng, nếu anh chị có đoàn tụ tiế tục chung sống cũng không có hạnh phúc. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của chị B là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, do chị B và anh N không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị B và anh N là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
[2.2] Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Ngọc H, sinh ngày 05/12/2012, hiện con đang sống chung với chị B và anh N. Trường hợp ly hôn anh N cũng thống nhất để chị B được nuôi con. Do đó, công nhận sự thỏa thuận của anh N và chị B về việc nuôi con chung, chị B được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau ly hôn tên Nguyễn Huỳnh Ngọc H. Về cấp dưỡng nuôi con: chị B không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này nên HĐXX không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị B phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.
Đối với ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 9, Điều 14 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị B và anh Huỳnh Trần Liễu Minh N.
- Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị B được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau ly hôn tên Nguyễn Huỳnh Ngọc H, sinh ngày 05/12/2012, hiện con đang sống chung với chị B và anh N.
Anh Huỳnh Trần Liễu Minh N có trách nhiệm giao con chung tên Nguyễn Huỳnh Ngọc H cho chị Nguyễn Thị B nuôi dưỡng sau khi ly hôn.
Anh Huỳnh Trần Liễu Minh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị B không yêu cầu anh Huỳnh Trần Liễu Minh N cấp dưỡng nuôi con trong vụ này nên không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí chị B đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0004215 ngày 15/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp được khấu trừ toàn bộ vào án phí phải nộp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị P |
Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 19/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị B yêu cầu ly hôn anh N
