Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HNGĐ-PT

Ngày: 21-8-2023

Về việc “ly hôn”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quốc Dũng

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân

Ông Trần Trọng Nhân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khải - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 36/2023/TLPT-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023 về việc: “Ly hôn”.

Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 29/2023/HNGĐ-ST ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 36/2023/QĐ-PT ngày 03 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Lê Thành T, sinh năm 1978; địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Bị đơn: bà Phan Thị H, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: ông Lê Thành T, nguyên đơn.

(Các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/3/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Thành T trình bày: ông và bà Phan Thị H tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 27/8/2009. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 02 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, bà H có tính ghen tuông nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, gia đình không hạnh phúc, ông đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống và ly thân với bà H từ tháng 3 năm 2022 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Phan Thị H.

Về con chung: ông và bà H có 02 con chung là Lê Triệu V, sinh ngày 11/3/2001 và Lê Thành K, sinh ngày 29/9/2005. Đối với cháu V đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông đề nghị giao cháu K cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn bà Phan Thị H trình bày tại phiên tòa: xác nhận lời trình bày của ông T về thời gian, điều kiện kết hôn của vợ chồng là đúng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến tháng 02 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do có sự hiểu lầm và bất đồng nhỏ trong cuộc sống nhưng ông T lại bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống nên vợ chồng không có cơ hội hòa giải mâu thuẫn để đoàn tụ với nhau. Nay bà không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông T.

Về con chung: vợ chồng có hai người con chung như ông T trình bày, hiện nay cháu V đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn, bà đề nghị được nuôi cháu K và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 29/2023/HNGĐ-ST ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An đã xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành T đối với bà Phan Thị H về việc: “Ly hôn”. Quan hệ hôn nhân giữa ông Lê Thành T và bà Phan Thị H vẫn là quan hệ vợ chồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 02 tháng 6 năm 2023, ông Lê Thành T kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Nguyên đơn ông Lê Thành T kháng cáo cho rằng, vợ chồng đã không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng đã không còn. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm.

Bị đơn bà Phan Thị H cho rằng, nguyên nhân mâu thuẫn chỉ xuất phát từ những hiểu lầm, bất đồng nhỏ trong cuộc sống, giữa bà và ông T vẫn còn tình cảm, mong muốn đoàn tụ để xây dựng gia đình. Vì vậy, bà đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa có ý kiến nhận xét về thủ tục giải quyết vụ án đã đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung tranh chấp: ông T và bà H đều thừa nhận vợ chồng đã thật sự ly thân từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay, các bên không có thiện chí hàn gắn tình cảm cho thấy hôn nhân giữa ông T và bà H đã mâu thuẫn trầm trọng, nếu duy trì mối quan hệ hôn nhân thì mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa hôm nay, ông T kiên quyết muốn ly hôn với bà H, bà H thì không đưa ra được biện pháp nào hàn gắn tình cảm nên yêu cầu kháng cáo của ông T là có cơ sở để chấp nhận.

Về con chung: tại phiên tòa, ông T và bà H thỏa thuận việc giao cháu K cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, ông T cấp dưỡng nuôi con chung một lần với số tiền 20.000.000 đồng đến khi cháu K đủ 18 tuổi nên đề nghị Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông T, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1] Đơn kháng cáo của ông Lê Thành T thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Quá trình xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, ông T và bà H đều khẳng định nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và đã không còn sống chung từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay.

Ông T kháng cáo cho rằng, bà H thường xuyên ghen tuông, vợ chồng thường xuyên cãi vã, dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng và không thể hàn gắn được. Tuy nhiên, bà H cho rằng, quá trình chung sống tuy có mâu thuẫn nhưng chưa trầm trọng để dẫn đến ly hôn, ông T không tạo điều kiện để bà hòa giải mâu thuẫn mà cố ý sống ly thân nên tình trạng mâu thuẫn mới kéo dài đến nay.

Thấy rằng, bà H muốn hàn gắn tình cảm với ông T nhưng tại phiên tòa, bà vẫn không đưa ra được giải pháp nào để thuyết phục và hàn gắn tình cảm với ông T. Trong khi đó, ông T vẫn kiên quyết ly hôn nên khả năng đoàn tụ khó có thể thực hiện. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm. Lời phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tại phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm là có căn cứ.

[3] Về con chung: ông T và bà H có 02 người con chung là Lê Triệu V, sinh ngày 11/3/2001 và Lê Thành K, sinh ngày 29/9/2005. Hiện tại, cháu V đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Tại phiên tòa, ông T và bà H thỏa thuận việc giao cháu K cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, ông T cấp dưỡng nuôi con chung một lần với số tiền 20.000.000 đồng đến khi cháu K đủ 18 tuổi nên Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên ông T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

[6] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Thành T;

Sửa toàn bộ bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 29/2023/HNGĐ-ST ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 5, 28, 37, 39, 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: cho ông Lê Thành T được ly hôn với bà Phan Thị H.
  2. Về con chung: giao con chung Lê Thành K, sinh ngày 29/9/2005 cho bà Phan Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Ông Lê Thành T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung một lần với số tiền 20.000.000 đồng đến khi cháu K đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con thực hiện theo quy định tại các Điều 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

  1. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí: ông Lê Thành T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0004623 ngày 02/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Ông T đã nộp đủ tiền án phí.
  3. Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Đức Huệ;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Huệ;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quốc Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2023/HNGĐ-PT ngày 21/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về ly hôn

  • Số bản án: 39/2023/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thành Tùng “Ly hôn” Phan Thị Hằng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger