TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 39/2023/DS-ST
Ngày: 30/5/2023.
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – TP.CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tăng Tài Thủ.
2. Bà Trần Thúy Kiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Điêu Khắc Khanh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoài Thương – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 292/2022/TLST - DS ngày 24 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 353/2023/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 389/2023/QĐST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- • Nguyên đơn: Ngân hàng N.
- Trụ sở: số 02 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, Tp. Hà Nội.
- Chi nhánh quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ. Địa chỉ: số D, quốc lộ I, khu vực L, phường T, quận T, Tp ..
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1987. Chức vụ: Nhân viên pháp chế. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ theo Giấy ủy quyền số 04/NHNo.TN-GUQ ngày 27/6/2022. (có mặt)
- • Bị đơn: Ông Trần Ngọc T1 - sinh năm 1988.
- Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị Mỹ D – sinh năm 1987.
- Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/6/2022 và trong quá trình Tòa án thu thập chứng cứ giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng N – Chi nhánh quận T, thành phố Cần Thơ có người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:
Ông Trần Ngọc T1 có ký hợp đồng vay vốn tại Ngân hàng N - Chi nhánh quận T, thành phố Cần Thơ (sau đây được gọi là A) theo hợp đồng tín dụng số 1803LAV2020-00958 ngày 05/8/2020, với số tiền vay tối đa là 2.500.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ năm trăm triệu đồng); phương thức cho vay: cho vay theo hạn mức; mục đích sử dụng tiền vay là: Nuôi cá tra; lãi suất vay: 9%/năm; trả lãi theo định kỳ 03 tháng/lần vào ngày 25 kể từ khi nhận tiền vay; thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ: theo từng báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ. Cụ thể các lần nhận nợ:
- + Ngày 01/06/2021, ông T1 ký nhận nợ với A số tiền 1.100.000.000 đồng; lãi suất: 8%/năm; lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất vay; thời hạn vay: 10 tháng; kỳ hạn trả nợ: 01 kỳ; ngày trả nợ gốc cuối cùng ngày 25/04/2022; kỳ hạn trả lãi: 03 tháng/lần.
- + Ngày 11/06/2021, ông T1 ký nhận nợ với A số tiền 700.000.000 đồng; lãi suất: 8%/năm; lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất vay; Lãi chậm trả tối đa bằng 50% lãi suất vay; thời hạn vay: 11 tháng; ngày trả nợ gốc cuối cùng ngày 25/05/2022; kỳ hạn trả lãi 03 tháng/lần.
- + Ngày 23/06/2021, ông T1 ký nhận nợ với A số tiền 700.000.000 đồng, lãi suất: 8%/năm, lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất vay; Lãi chậm trả tối đa bằng 50% lãi suất vay; thời hạn vay: 11 tháng; ngày trả nợ gốc cuối cùng ngày 25/05/2022; kỳ hạn trả lãi 03 tháng/lần.
Hiện tại ông T1 chỉ nộp lãi đến ngày 25/03/2022, các khoản vay nêu trên đều quá hạn gốc, lãi tuy nhiên ông và gia đình không đưa ra được phương án trả nợ khả thi.
Tài sản đảm bảo nợ vay là Quyền sử dụng đất diện tích: 27.439m² tại Thửa đất số: 99; Tờ bản đồ: 01; Loại đất: Đất trồng cây hàng năm khác + nuôi trồng thủy sản; đất tọa lạc tại khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH 850755, số vào sổ “H”01840 do UBND huyện T (cũ) cấp ngày 19/04/2007, được Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T xác nhận chỉnh lý ngày 19/9/2007 và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T chỉnh lý ngày 03/08/2018 cho ông Trần Ngọc T1 đứng tên sử dụng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 88/2018/HĐTC ngày 14/8/2018 chứng thực ngày 14/8/2018 và Phụ lục Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2019TNT01 ngày 13/8/2019 chứng thực ngày 06/9/2019 tại UBND phường T, quận T và được đăng ký thế chấp số thứ tự 444 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T ngày 15/8/2018.
A đã nhiều lần thông báo nợ đến hạn, quá hạn và đôn đốc khách hàng tìm biện pháp trả nợ nhưng gia đình hộ vay đã ngừng nuôi cá không còn khả năng trả nợ nên đả ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn.
Nay nguyên đơn A yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Trần Ngọc T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn theo hợp đồng tín dụng đã ký với số tiền gốc là 2.500.000.000 đồng, số tiền lãi tạm tính đến 24/04/2023 là: 353.171.234 đồng, tổng cộng gốc lãi là 2.853.171.234 đồng và phần lãi phát sinh đến ngày trả hết nợ cho nguyên đơn.
Trường hợp bị đơn ông T1 không thực hiện việc thanh toán nợ hoặc thanh toán nợ không đầy đủ thì nguyên đơn yêu cầu được quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 88/2018/HĐTC ngày 14/8/2018 chứng thực ngày 14/8/2018 và Phụ lục Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2019TNT01 ngày 13/8/2019 chứng thực ngày 06/9/2019 tại UBND phường T, quận T và được đăng ký thế chấp số thứ tự 444 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T ngày 15/8/2018 để thu hồi nợ.
Về phía bị đơn ông Trần Ngọc T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Mỹ D: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án nhiều lần triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật đối với bị đơn ông Trần Ngọc T1 và người liên quan bà Ngô Thị Mỹ D đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông bà đều vắng mặt.
Vì vậy, để làm cơ sở giải quyết Tòa án có kết hợp với chính quyền địa phương đến nơi cư trú để ghi ý kiến của ông bà đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không thực hiện được do ông bà không có mặt địa phương. Qua kết quả xác minh ngày 18/4/2023 được T2 khu vực L cho biết: Ông Trần Ngọc T1 và vợ là bà Ngô Thị Mỹ D có đăng ký thường trú tại khu vực L, phường T, quận T, Tp . nhưng hiện nay ông T1, bà D đi làm ăn xa cách khoảng 02 đến 03 tháng thì ông bà về địa phương một lần để thăm gia đình, mỗi lần về thăm gia đình trong khoảng thời gian ngắn sau đó ông bà lại tiếp tục đi làm xa nên ít khi có mặt tại địa phương, do đương sự không trình báo nên không biết đương sự ông T1, bà D đang làm gì và ở đâu, cũng không biết đến khi nào đương sự trở về địa phương.
Tại các biên bản xác minh ngày 06/02/2023 và ngày 18/4/2023 thì được ông Trần Ngọc L cho biết như sau: Ông L có mối quan hệ là cha ruột của ông Trần Ngọc T1, đồng thời ông là cha chồng của bà Ngô Thị Mỹ D cùng đăng ký thường trú tại khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Sự việc T1 vay vốn tại A số tiền 2.500.000.000 đồng và T1 có dùng tài sản là thửa đất số 99, tờ bản đồ số 01, đất tọa lạc khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ thế chấp cho ngân hàng để đảm bảo việc vay vốn thì ông và gia đình có biết, nhưng do việc nuôi cá tra bị thua lỗ nên T1 không có khả năng trả nợ được cho Ngân hàng. Sau khi nhận thông báo thụ lý vụ án và các lần Tòa án gửi giấy triệu tập thì ông đều có thông báo lại cho T1 và D biết, khi đó T1 và D nhờ ông thông báo lại với Tòa án là do đang đi làm ở xa và hiện nay cũng không còn khả năng thanh toán nợ cho Ngân hàng nên T1 và D cũng đồng ý giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng phát mãi để thu hồi nợ, đồng thời T1 và D yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt T1 và D theo quy định pháp luật, T1 và D cam kết không khiếu nại gì về sau. Đồng thời, ông L cũng có ý kiến mong Tòa án xem xét giải quyết vắng mặt T1 và D bởi vì T1 và D cũng đồng ý trả nợ cho ngân hàng.
Quá trình thụ lý giải quyết Tòa án có tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ phần tài sản thế chấp thì xác định đúng vị trí và có thửa đất thế chấp ngoài thực địa theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 88/2018/HĐTC ngày 14/8/2018 chứng thực ngày 14/8/2018 và Phụ lục Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2019TNT01 ngày 13/8/2019 chứng thực ngày 06/9/2019 tại UBND phường T, quận T và được đăng ký thế chấp số thứ tự 444 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T ngày 15/8/2018 và có các tài sản gắn liền trên đất thế chấp như sau:
- - Nhà kho của ông Trần Ngọc T1 có kết cấu: khung thép tiền chế, mái tole, không trần, vách tole, nền láng xi măng và nền đất 20%. Diện tích: 7,2m x 10,1m = 72,72m².
- - Các cây trồng của ông Trần Ngọc T1 gồm có: 01 (một) cây Dừa loại B; 05 (năm) cây Xoài loại B; 04 (bốn) cây Mít loại C; 02 (hai) cây Mít loại A; 01 (một) cây Sung đường kính 30cm – 60cm. Ngoài ra, không còn tài sản hay đồ vật gì khác.
Sau khi thụ lý Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần để động viên các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng nhiều lần bị đơn và người liên quan không đến theo giấy triệu tập của Tòa án nên không tiến hành hòa giải được, vì vậy vụ án được đưa ra xét xử theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn A có người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Thu T trình bày: Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Trần Ngọc T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn theo hợp đồng tín dụng đã ký với số tiền gốc là 2.500.000.000 đồng, số tiền lãi tạm tính đến 30/5/2023 là: 392.006.850 đồng, tổng cộng gốc lãi là 2.892.006.850 đồng và phần lãi phát sinh tính từ ngày 31/5/2023 đến ngày trả hết nợ cho nguyên đơn.
Trường hợp bị đơn ông T1 không thực hiện việc thanh toán nợ hoặc thanh toán nợ không đầy đủ thì nguyên đơn yêu cầu được quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 88/2018/HĐTC ngày 14/8/2018 chứng thực ngày 14/8/2018 và Phụ lục Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2019TNT01 ngày 13/8/2019 chứng thực ngày 06/9/2019 tại UBND phường T, quận T và được đăng ký thế chấp số thứ tự 444 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T ngày 15/8/2018 để thu hồi nợ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng theo quy định pháp luật; Phát biểu phân tích nội dung chứng cứ trong vụ án, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N – chi nhánh quận T, thành phố Cần Thơ. Buộc bị đơn ông Trần Ngọc T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền gốc là 2.500.000.000 đồng, số tiền lãi tạm tính đến 30/5/2023 là: 392.006.850 đồng, tổng cộng gốc lãi là 2.892.006.850 đồng và phần lãi phát sinh tính từ ngày 31/5/2023 đến ngày trả hết nợ cho nguyên đơn.
Trường hợp bị đơn ông T1 không thực hiện việc thanh toán nợ hoặc thanh toán nợ không đầy đủ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 88/2018/HĐTC ngày 14/8/2018 chứng thực ngày 14/8/2018 và Phụ lục Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2019TNT01 ngày 13/8/2019 chứng thực ngày 06/9/2019 tại UBND phường T, quận T và được đăng ký thế chấp số thứ tự 444 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T ngày 15/8/2018, để thu hồi nợ.
Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Ngọc T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Mỹ D đều vắng mặt lần thứ hai không có lý do, mặc dù ông bà đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông T1 và người liên quan bà D là phù hợp.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
[2.1] Quan hệ pháp luật: Nguyên đơn A là tổ chức có đăng ký kinh doanh khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trần Ngọc T1 có trách nhiệm thanh toán nợ gốc, tiền lãi phát sinh chưa thanh toán cho nguyên đơn theo hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết và giao tài sản thế chấp bảo đảm cho nguyên đơn để xử lý thu hồi nợ. Xét thấy, các bên tham gia giao kết hợp đồng tín dụng đều có mục đích lợi nhuận nhưng bị đơn không có đăng ký kinh doanh nên xác định mối quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp về giao dịch dân sự mà cụ thể là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2.2] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Trần Ngọc T1 có địa chỉ thường trú tại khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh của chính quyền địa phương cung cấp thì bị đơn ông T1 bỏ địa phương đi làm xa, thỉnh thoảng 02 – 03 tháng về địa phương một lần nên ít khi cư trú tại địa chỉ nêu trên. Khi ông T1 về nơi cư trú mới thì không thông báo cho nguyên đơn biết theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ theo hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, Tòa án căn cứ nơi cư trú của bị đơn ghi trong hợp đồng đã ký kết để thụ lý giải quyết và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[3] Về nội dung tranh chấp: Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[3.1] Về yêu cầu thanh toán nợ:
Nguyên đơn A và bị đơn ông Trần Ngọc T1 có thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng số 1803LAV2020-00958 ngày 05/8/2020 cho ông T1 vay số tiền 2.500.000.000 đồng, mục đích vay chi phí nuôi cá tra, lãi suất vay: 9%/năm; trả lãi theo định kỳ 03 tháng/lần vào ngày 25 kể từ khi nhận tiền vay; thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ: theo từng báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ (cụ thể: Ngày 01/06/2021 ông T1 ký nhận nợ với Ngân hàng A số tiền 1.100.000.000 đồng, thời hạn vay: 10 tháng, kỳ hạn trả nợ gốc cuối cùng ngày 25/04/2022; Ngày 11/06/2021 ông T1 ký nhận nợ số tiền 700.000.000 đồng, thời hạn vay: 11 tháng, ngày trả nợ gốc cuối cùng ngày 25/05/2022; Ngày 23/06/2021 ông T1 ký nhận nợ số tiền 700.000.000 đồng, thời hạn vay: 11 tháng, ngày trả nợ gốc cuối cùng ngày 25/05/2022), bị đơn đã nhận đủ số tiền nêu trên vào các lần giải ngân. Tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên có đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội phù hợp với những quy định về nội dung, hình thức hợp đồng được quy định tại các Điều 116, 117, 118, 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 và các Điều 90, 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng nên có hiệu lực pháp luật và có giá trị ràng buộc giữa các bên.
Xét thấy bị đơn trong thời gian vay tiền của nguyên đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền gốc, lãi theo định kỳ khi đến hạn nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết, nay nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền 2.892.006.850 đồng, trong đó: nợ gốc 2.500.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 30/5/2023 là 392.006.850 đồng và bị đơn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến khi thanh toán dứt nợ là phù hợp với thoả thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết nên yêu cầu khởi kiện về việc thanh toán nợ từ hợp đồng tín dụng của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[3.2] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ:
Bị đơn ông Trần Ngọc T1 và người liên quan bà Ngô Thị Mỹ D có ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 88/2018/HĐTC ngày 14/8/2018 chứng thực ngày 14/8/2018 và Phụ lục Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2019TNT01 ngày 13/8/2019 chứng thực ngày 06/9/2019 tại UBND phường T, quận T và được đăng ký thế chấp số thứ tự 444 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T ngày 15/8/2018 là Quyền sử dụng đất diện tích: 27.439m² tại Thửa đất số: 99; Tờ bản đồ: 01; Loại đất: Đất trồng cây hàng năm khác + nuôi trồng thủy sản theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH 850755, số vào sổ “H”01840 do UBND huyện T (cũ) cấp ngày 19/04/2007, được Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T xác nhận chỉnh lý ngày 19/9/2007 và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T chỉnh lý ngày 03/08/2018 cho ông Trần Ngọc T1 đứng tên sử dụng, đất tọa lạc tại khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ để đảm bảo cho khoản nợ vay của bị đơn đối với nguyên đơn.
Xét thấy, bị đơn ông Trần Ngọc T1 đứng tên chủ sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất thế chấp từ khi được cấp giấy đất cho đến nay chưa có cơ quan nhà nước thẩm quyền nào có ý kiến và cũng không có ai tranh chấp hoặc khiếu nại việc đứng tên trên giấy này nên ông T1 được xem là chủ sử dụng đất hợp pháp. Hợp đồng thế chấp tài sản được ký kết và công chứng, chứng thực theo đúng quy định pháp luật và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận T, Tp . có nội dung phù hợp với quy định pháp luật nên các đương sự phải thực hiện trách nhiệm theo quy định các Điều 319, 320 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp bảo đảm để thu hồi nợ của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các điều 299, 303, 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
Đối với các tài sản gắn liền trên đất thế chấp bao gồm: nhà kho và các cây trồng trên đất theo biên bản xem xét, thẩm định tại chổ ngày 22/02/2023 thuộc sở hữu của bị đơn và người liên quan không thuộc tài sản thế chấp đảm bảo khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất để thu hồi nợ thì cần xử lý các tài sản này theo quy định Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong trường hợp các đương sự có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[3.3] Về phía bị đơn ông Trần Ngọc T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Mỹ D đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo phiên họp công khai kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, có ghi rõ ngày đưa vụ án ra xét xử bị đơn ông T1 và người liên quan bà D có biết theo biên bản xác minh ông Trần Ngọc L tại các bút lục số 84 – 85, nhưng ông bà đều vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên trong trường hợp này được xem ông T1, bà D từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình nên ông bà phải gánh chịu hậu quả không chứng minh theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như sau:“ Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra chứng cứ đủ chứng minh thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Vì vậy, có cơ sở xác định bị đơn ông T1 có nợ nguyên đơn tổng số tiền gốc, lãi 2.892.006.850 đồng đến nay chưa thanh toán nợ cho nguyên đơn là sự thật.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền 2.892.006.850 đồng. Trong đó: nợ gốc 2.500.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 30/5/2023 là 392.006.850 đồng và bị đơn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến khi thanh toán dứt nợ. Trường hợp bị đơn không thanh toán nợ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định pháp luật để thu hồi nợ là phù hợp.
[4] Về chí phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chổ tài sản thế chấp với tổng số tiền là 4.000.000 đồng do nguyên đơn nộp tạm ứng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải có nghĩa vụ nộp số tiền 4.000.000 đồng để trả cho nguyên đơn là phù hợp theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch tính trên số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[6] Xét đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 157, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 116, 117, 118, 119, 292, 295, 298, 299, 303, 319, 320, 322, 323, 325, 351 và 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Các Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về nợ: Buộc bị đơn ông Trần Ngọc T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng N nợ gốc 2.500.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 30/5/2023 là 392.006.850 đồng, tổng cộng số tiền nợ gốc và lãi 2.892.006.850₫ (Hai tỷ tám trăm chín mươi hai triệu không trăm lẻ sáu ngàn tám trăm năm mươi đồng).
Bị đơn ông Trần Ngọc T1 còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh được tính từ ngày 31/5/2023 trên dư nợ gốc theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong số nợ.
2/ Về xử lý tài sản thế chấp:
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản là quyền sử dụng đất thế chấp và tài sản gắn liền trên đất theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 88/2018/HĐTC ngày 14/8/2018 chứng thực ngày 14/8/2018 và Phụ lục Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2019TNT01 ngày 13/8/2019 chứng thực ngày 06/9/2019 tại UBND phường T, quận T và được đăng ký thế chấp số thứ tự 444 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T ngày 15/8/2018 là Quyền sử dụng đất diện tích: 27.439m² tại Thửa đất số: 99; Tờ bản đồ: 01; Loại đất: Đất trồng cây hàng năm khác + nuôi trồng thủy sản theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH 850755, số vào sổ “H”01840 do UBND huyện T (cũ) cấp ngày 19/04/2007, được Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T xác nhận chỉnh lý ngày 19/9/2007 và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T chỉnh lý ngày 03/08/2018 cho ông Trần Ngọc T1 đứng tên sử dụng, đất tọa lạc tại khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ thu hồi nợ.
Đối với các tài sản gắn liền trên thửa đất thế chấp đảm bảo của các đương sự không thuộc tài sản thế chấp đảm bảo khi xử lý phát mãi tài sản để thu hồi nợ thì các tài sản này được thực hiện theo quy định Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong trường hợp các đương sự có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác theo quy định của pháp luật.
3/ Về chí phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chổ tổng số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng). Buộc bị đơn ông Trần Ngọc T1 phải có trách nhiệm nộp số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) để trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng N.
4/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Trần Ngọc T1 phải nộp án phí số tiền 89.840.137₫ (Tám mươi chín triệu tám trăm bốn mươi ngàn một trăm ba mươi bảy đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn Ngân hàng N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 42.283.000₫ (Bốn mươi hai triệu hai trăm tám mươi ba ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004649 ngày 14/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
5/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
6/ Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Mộng Tuyền |
Bản án số 39/2023/DS-ST ngày 30/05/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 39/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N
