Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUYÊN HOÁ

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HS-ST

Ngày 05-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Hữu Tình

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Xuân Thuận và bà Bùi Thị Kim Nhung

- Thư ký phiên toà: ông Đinh Quang Vịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: ông Phan Ngọc Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2022/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Công T, sinh ngày 06 tháng 7 năm 1997, tại huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn S, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh B và bà Phạm Thị Thu H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 20/5/2022 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Phạm Văn Q, sinh năm 1995

Địa chỉ: thôn M, xã P, huyện T, Quảng Bình, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người làm chứng:

  1. Anh Trần Đại T, vắng mặt.
  2. Anh Hoàng Thanh H, vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Ngọc Q, vắng mặt.
  4. Ông Nguyễn Văn H, vắng mặt.
  5. Anh Hồ Duy L, vắng mặt.
  6. Anh Nguyễn Văn H, vắng mặt.
  7. Chị Đinh Thị Dương L, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 22/10/2021, tại khu cách ly tập trung về phòng chống dịch bệnh Covid -19 trường Mầm Non xã P, huyện T. Trần Công T, Hoàng Thanh H, Trần Đại T cùng trú tại thôn S, xã P, huyện T, Phạm Văn Q trú tại thôn M, xã P, huyện T và Nguyễn Ngọc Q trú tại thôn C, xã P, huyện T cùng một số người đang cách ly tại đây tổ chức uống rượu, bia tại phòng cách ly số 02. Trong quá trình uống rượu, bia, giữa T và H xảy ra mâu thuẫn, hai bên lời qua tiếng lại, rồi lao vào xâu ẩu, đánh nhau. Được mọi người can ngăn nên T và H đi về phòng của mình. Một lúc sau, T tiếp tục đi qua phòng H để nói chuyện thì cả hai lại tiếp tục to tiếng với nhau, T lao vào dùng tay đẩy H ngã xuống nền nhà. Thấy vậy, các đồng chí Tô Ngọc L, Lê Minh C, Cao Xuân D, Cao Tiến D là những người làm nhiệm vụ bảo vệ khu cách ly đã đến nhắc nhở, đưa T về phòng cách ly số 05 và yêu cầu T chấm dứt hành vi vi phạm. Do còn bức xúc T mang theo 01 cái muỗng, đi đến phòng cách ly số 01 để đánh H, nhưng anh Nguyễn Ngọc Q đã giật lấy muỗng và vứt đi, thì T dùng tay lao vào đánh H. Lúc này, Q, Q và L đến can ngăn, trong lúc can ngăn, giữa T và Q xảy ra đánh nhau, Q dùng tay đánh trúng vào mặt của T. Do bị Q đánh, nên T tức giận và một lúc sau, T đi đến phòng số 01 lấy một cái dao (loại dao gọt hoa quả) của ông Nguyễn Văn H rồi quay lại dùng dao đâm hai nhát vào người của Q, một nhát trúng vào cẳng tay trái, một nhát trúng vào ngực làm Q bị thương. H thấy vậy, sợ T tiếp tục đánh mình nên đã bỏ chạy, nhảy qua hàng rào ra khỏi khu cách ly để trốn. Lúc này, lực lượng bảo vệ khu cách ly có mặt khống chế T và đưa Q ra ngoài để sơ cứu vết thương, đồng thời đưa H quay lại khu cách ly. Khi thấy Q đang ngồi tại ghế đá trong khu cách ly, Trần Đại T đến hỏi thăm thì bị Q chửi “anh em sống với nhau như ri thì chết”, Trà chửi lại “bay đập anh em tau, tau hỏi thăm rồi còn chửi”, rồi cầm lấy biển báo chỉ dẫn đặt gần đó, đánh trúng lưng của Q làm gãy biển báo chỉ dẫn khu cách ly, Q bỏ chạy thì Trà đuổi theo và dùng thanh kim loại của biển báo khu cách ly đánh trúng vào đầu. Sau đó, lực lượng bảo vệ khu cách ly kịp thời có mặt, khống chế Trà và lập biên bản vụ việc. Quá trình làm việc, T và Trà khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Kết luận giám định số 123/TgT ngày 25/11/2021 của Trung tâm giám định Y khoa pháp Y tỉnh Quảng Bình kết luận: tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Phạm Văn Q do thương tích gây nên hiện tại 07% (bảy phần trăm). Thương tích không gây ảnh hưởng đến tính mạng.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuyên Hóa đã thu giữ: một phong bì đã được niêm phong, bên trong có chứa 01 con dao làm bằng kim loại sáng màu dài 21,5 cm, lưỡi dao dài 10,5 cm, một cạnh sắc, phần rộng nhất 02 cm, cán dao dài 11 cm, phần rộng nhất 1,5 cm tình trạng con dao đã qua sử dụng, bề mặt sạch, ký hiệu A1 và phần còn lại của các mẫu máu ký hiệu A2, A3, A4; một thanh kim loại có hình hộp chữ nhật kích thước 120x02x02 cm; một biển chỉ dẫn trên có chữ Tổ Y Tế, kích thước 42x30 cm.

Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra các bị cáo Trần Công T và Trần Đại T đã tự giác, thỏa thuận bồi thường cho bị hại là Phạm Văn Q số tiền 12.000.000 đồng (bao gồm tiền chi phí điều trị, tổn thất tinh thần do hành vi gây thương tích). Các bên đã giao nhận tiền đầy đủ và không có yêu cầu gì thêm về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKSTH-HS ngày 05/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình đã truy tố Trần Công T về tội “gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt Trần Công T từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy một phong bì đã được niêm phong, bên trong có chứa 01 con dao làm bằng kim loại sáng màu, ký hiệu A1 và phần còn lại của các mẫu máu ký hiệu A2, A3, A4; một thanh kim loại có hình hộp chữ nhật; một biển chỉ dẫn trên có chữ Tổ Y Tế. Bị cáo Trần Công T pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: do có mâu thuẫn trong khi ngồi uống rượu nên Trần Công T đã có hành vi xâu ẩu, đánh nhau với Hoàng Thanh H, T dùng tay đẩy H ngã xuống nền nhà và dùng tay đánh H, sau đó lại tiếp tục xảy ra mâu thuẫn với anh Phạm Văn Q, khi T và Q xâu ẩu nhau thì Q đã dùng tay đánh vào mặt của T. Hành vi của Trần Công T gây ra tại khu cách ly tập trung về phòng chống dịch bệnh Covid -19 xã P, huyện T đã gây nên tình trạng mất trật tự nơi công cộng.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Trần Công T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập và được thẩm tra tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ về thời gian, địa điểm, hành vi của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Trần Công T phạm tội “gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi gây rối trật tự công cộng của bị cáo Trần Công T là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó thể hiện sự coi thường pháp luật làm ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý theo quy định của Bộ luật hình sự.

[3] Hội đồng xét xử cũng xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho anh Phạm Văn Q. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.

Xét thấy bị cáo Trần Công T tại phiên tòa đã thực sự ăn năn, hối cải, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy rằng chưa cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo mà áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đã đủ nghiêm, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.

[4] Về xử lý vật chứng: Đối với một 01 con dao làm bằng kim loại, ký hiệu Al và phần còn lại của các mẫu máu ký hiệu A2, A3, A4; một thanh kim loại có hình hộp chữ nhật kích thước 120x02x02 cm; một biển chỉ dẫn trên có chữ Tổ Y Tế, kích thước 42x30 cm là những công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.

[5] Liên quan trong vụ án còn có hành vi gây thương tích của các đối tượng, cụ thể như sau: Sau khi giữa T và Q xảy ra mâu thuẫn, hai bên xâu ẩu nhau thì Q đã dùng tay đánh vào mặt của T, do bị đánh nên T tức giận một lúc sau T đã sang phòng cách ly số 01 lấy dao rồi đi sang phòng của Q đâm Q hai nhát gây thương tích; Trần Đại T dùng biển báo của khu cách ly đánh gây thương tích cho Phạm Văn Q. Theo kết quả giám định thương tích kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do các thương tích gây nên của Phạm Văn Q là 07%. Tuy nhiên, quá trình điều tra bị hại Phạm Văn Q đã có đơn xin rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án đối với bị can Trần Công T và Trần Đại T. Việc xin rút đơn yêu cầu khởi tố của bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Ngày 09/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuyên Hóa đã ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can và đình chỉ điều tra bị can đối với Trần Công T và Trần Đại T về tội “cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Trong vụ án này còn có Hoàng Thanh H, Trần Đại T, Phạm Văn Q và Nguyễn Ngọc Q là những người tham gia uống rượu bia. Tuy nhiên, những người này chỉ can ngăn, không tham gia việc xâu ẩu đánh nhau gây mất an ninh trật tự. Hành vi chưa cấu thành tội “gây rối trật tự công cộng”.

[6] Về án phí: Bị cáo Trần Công T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và hình phạt: tuyên bố bị cáo Trần Công T phạm tội “gây rối trật tự công cộng".

Xử phạt bị cáo Trần Công T 7.000.000đ (bảy triệu đồng). Thời gian chấp hành hình phạt tiền của bị cáo kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy một phong bì đã được niêm phong, bên trong có chứa 01 con dao làm bằng kim loại sáng màu dài 21,5 cm, lưỡi dao dài 10,5 cm, một cạnh sắc, phần rộng nhất 02 cm, cán dao dài 11 cm, phần rộng nhất 1,5 cm tình trạng con dao đã qua sử dụng, bề mặt sạch, ký hiệu A1 và phần còn lại của các mẫu máu ký hiệu A2, A3, A4; một thanh kim loại có hình hộp chữ nhật kích thước 120x02x02 cm; một biển chỉ dẫn trên có chữ Tổ Y Tế, kích thước 42x30 cm.

Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa có đặc điểm mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/7/2022 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra công an huyện Tuyên Hóa và Chi cục Thi hành án án dân sự huyện Tuyên Hóa.

3. Về án phí: buộc bị cáo Trần Công T pH chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/8/2022); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND huyện Tuyên Hoá;
  • - Công an huyện Tuyên Hóa;
  • - Chi cục THADS Tuyên Hóa;
  • - Bị cáo, NTGTT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Phạm Hữu Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2022/HS-ST ngày 05/08/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 39/2022/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger