|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 38A/2025/DS-PT
Ngày: 06/3/2025
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hùng
Các Thẩm phán: Ông Phạm Tiến Hiệp
Ông Lê Viết Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 247/2024/TLPT-DS ngày 25/12/2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 28 tháng 09 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Xoài bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 42/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 02 năm 2025, giữa:
* Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Lan Phương, sinh năm 1982; Địa chỉ: khu phố 2, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. (Có mặt);
* Bị đơn: Ông Nguyễn Đình Súy, sinh năm 1967; Địa chỉ: khu phố 2, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước(Có mặt);
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Hoa, sinh năm 1970 (đã chết, người đại diện theo pháp luật của bà Hoa là ông Nguyễn Đình Súy);
- Bà Nguyễn Thị Thanh Trang, sinh năm 1996 (Vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Tươi, sinh năm 1992 (Vắng mặt);
- Ông Nguyễn Đình Thanh Sơn, sinh năm 2003 (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ: khu phố 2, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước;
5. Ông Nguyễn Tấn Tài, sinh năm 1984; Địa chỉ: khu phố 2, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của ông Tài: Bà Vũ Thị Lan Phương, sinh năm 1982; Địa chỉ: khu phố 2, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước;
6. Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Khắc Việt, chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. (Có đơn xin vắng mặt)
* Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Vũ Thị Lan Phương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Vũ Thị Lan Phương trình bày:
Vào ngày 30 tháng 12 năm 2019, bà Vũ Thị Lan Phương đã nhận chuyển nhượng của bà Bùi Thị Thanh Huyên và ông Đoàn Hữu Hiếu một thửa đất có diện tích chiều ngang 4m, chiều dài 29,1m, một cạnh dài 27,5m, tổng diện tích 75,17m² tại tờ bản đồ số 23, thửa đất số 12 tọa lạc tại khu phố 2, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận QSD đất số S 372669, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 456/QSDĐ/UB, do Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước cấp ngày 18/4/2001. Thửa đất có tứ cận như sau: phía Tây giáp đường bê tông; phía Đông giáp đất nhà ông Bạo; phía Bắc giáp đất ông Súy, phía Nam giáp giáp đường bê tông (đi vào nhà ông Bạo). Sau khi nhận chuyển nhượng bà Phương đã tiến hành làm thủ tục sang tên và đã điều chỉnh trang 4 đứng tên hộ ông Nguyễn Tấn Tài và bà Vũ Thị Lan Phương theo hồ sơ số: 200219-0005 ngày 20/02/2020.
Khi bà Huyên giao đất, bà Phương đã mời địa chính đến đo đạc để cắm mốc ranh giới thửa đất thì ông Súy không đồng ý cho đo. Ngày 21/4/2020 ông Súy đã tự cắm mốc và xây dựng hàng rào lấn sang phần diện tích đất của bà Phương có chiều ngang phía trước khoảng 30cm, phía sau khoảng 1,2m, chiều dài 19,8m, tổng cộng khoảng 15m², nên bà Phương đã mời Cán bộ phường đến làm việc, lập biên bản yêu cầu ông Súy tạm ngưng việc xây dựng vì hiện tại đất đang có tranh chấp. Tuy nhiên ông Súy vẫn tiếp tục xây dựng lấn chiếm sang phần đất của bà Phương.
Ủy ban nhân dân phường Tân Đồng đã tiến hành hòa giải nhưng ông Súy cố tình vắng mặt không hợp tác để tiến hành hòa giải nên buổi hòa giải không thành. Nay bà Phương yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Đình Súy phải trả lại diện tích đã lấn chiếm có chiều ngang phía tây khoảng 30 cm, chiều ngang phía đông khoảng 1.2m, chiều dài phía bắc 19.8m, tổng cộng khoảng 15m².
Bị đơn ông Nguyễn Đình Súy trình bày:
Vào năm 2002 ông Súy có nhận chuyển nhượng của ông Trần Đức Toàn diện tích đất 210m² tọa lạc tại khu phố 2, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, vì lâu quá nên ông Súy không nhớ giá tiền cụ thể. Đến ngày 20/6/2003 hộ ông Nguyễn Đình Súy được UBND thành phố Đồng Xoài cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 210m² (đất thổ cư) tờ bản đồ số 23, thửa đất số 12b theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00151 QSDĐ/2189/QĐUB tọa lạc tại khu phố 2, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước có tứ cận như sau: phía Bắc giáp đường đi (trừ lộ giới đường từ tim vào 8,5m) thì có chiều dài 15m; phía Nam giáp đất ông Bạo dài 10m; phía Đông giáp đất ông Tuấn dài 15m và phía Tây giáp đất bà Phương dài 20m.
Nay bà Phương khởi kiện yêu cầu ông Súy tháo dỡ công trình xây dựng và trả lại 15m² đã lấn chiếm cho bà Phương thì ông Súy yêu cầu đất của ông Súy được cấp đến đâu thì ông sử dụng đến đó, ông chỉ sử dụng đúng mốc ranh giới được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nếu quá trình sử dụng đất có sai ranh giới thì đề nghị giải quyết theo qui định của pháp luật để các bên sử dụng đúng ranh giới được cấp quyền sử dụng đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Đình Thanh Sơn và bà Nguyễn Thị Tươi trình bày: Việc bà Vũ Thị Lan Phương khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất về ranh đất với ông Nguyễn Đình Súy (cha đẻ của ông Sơn và bà Tươi) thì ông Sơn và bà Tươi không có liên quan gì, diện tích đất do ông Nguyên Đình Súy đứng tên, ông Súy có toàn quyền quyết định, ông Sơn và bà Tươi không có ý kiến gì và không yêu cầu gì khác.
Bà Nguyễn Thị Thanh Trang vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 28 tháng 09 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị Lan Phương.
Buộc ông Nguyễn Đình Súy phải tháo dỡ bức tường xây bằng gạch không tô có chiều dài 22,06m, (trong đó tính từ mép đường vào sâu 10m là bức tường gạch cao 0,5m x10m, phía trên có gắn khung sắt cao 0,9m, còn lại là bức tường gạch có chiều dài 12,06m x 1,4m) trả lại diện tích đất lấn chiếm 11,1m² cho bà Vũ Thị Lan Phương và ông Nguyễn Tấn Tài quản lý sử dụng theo quy định pháp luật. (Có sơ đồ kèm theo).
Giao cho ông Nguyễn Đình Súy được quyền quản lý sử dụng diện tích đất 1,3m² của gốc phía sau căn nhà cấp 4. (Có sơ đồ kèm theo).
Ông Nguyễn Đình Súy trả lại cho bà Vũ Thị Lan Phương và ông Nguyễn Tấn Tài giá trị diện tích đất 1,3m² là 6.822.400 đồng (Sáu triệu tám trăm hai mươi hai ngàn bốn trăm đồng).
Ông Súy, bà Phương và ông Tài có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh biến động phù hợp với diện tích đất thực tế sử dụng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần án phí, chi phí tố tụng và nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 9/10/2024 nguyên đơn bà Vũ Thị Lan Phương có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước do diện tích đất của bà Phương đã được cấp sổ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nằm trong mức tối thiểu cho phép theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn kháng cáo xác định chỉ kháng cáo 1,3m² mà bị đơn xây dựng nhà và yêu cầu xây dựng nhà buộc bị đơn phải đập nhà để trả lại đất hoặc phải trả giá trị 1,3m² là 50.000.000 đồng.
Ý kiến của bị đơn thống nhất theo quyết định của bản án sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:
- - Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS 2015 không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
* Về tố tụng:
[1]. Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thị Lan Phương thực hiện trong thời hạn luật định; đơn kháng cáo có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272 và 273 của BLTTDS, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
* Về nội dung:
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thị Lan Phương, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Về nguồn gốc đất: Diện tích đất tranh chấp là do vợ chồng bà Phương và ông Tài nhận chuyển nhượng từ hộ bà Huyên vào ngày 30/12/20219, có diện tích là 75,17 m². Sau khi nhận chuyển nhượng bà Phương đã tiến hành làm thủ tục sang tên và đã điều chỉnh trang 04 đứng tên hộ ông Nguyễn Tấn Tài và bà Vũ Thị Lan Phương. Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/5/2024 xác định diện tích đất đang tranh chấp là 12,4m², trong đó có 1,3m² là diện tích một phần góc phía sau căn nhà cấp 4 của ông Súy đang quản lý sử dụng; tài sản trên đất có bức tường xây bằng gạch không tô có chiều dài 22,06m, (trong đó tính từ mép đường vào sâu 10m là bức tường gạch cao 0,5m x10m, phía trên có gắn khung sắt cao 0,9m, còn lại là bức tường gạch có chiều dài 12,06m x 1,4m) nằm trên diện tích đất 11,1m² lấn chiếm còn lại. Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đều thống nhất đất của ông Suý, bà Phương được nhà nước cấp đến đâu thì sử dụng đến đó, sử dụng đúng ranh giới được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2.2] Tòa cấp sơ thẩm căn cứ vào hồ sơ pháp lý cấp quyền sử dụng đất và theo kết quả đo đạc thực tế, xác định ông Nguyễn Đình Súy đã xây dựng hàng rào và một gốc phía sau căn nhà cấp 4 lấn sang phần đất của bà Phương, ông Tài diện tích là 12,4m², để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phương là có căn cứ.
[2.3] Xét thấy phần diện tích 1,3m² nằm trong phần diện tích đất góc phía sau căn nhà cấp 4 của ông Nguyễn Đình Súy, nếu tháo dỡ sẽ ảnh hưởng đến kết cấu toàn bộ căn nhà, dẫn đến bị sập và mất mỹ quan của căn nhà. Hơn nữa, ông Suý xây căn nhà trên từ năm 2003 và sử dụng ổn định trước khi bà Phương nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Huyên. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự, tòa cấp sơ thẩm nhận định ông Suý phải có trách nhiệm thanh toán giá trị bằng tiền với diện tích đất 1,3m² cho bà Phương, ông Tài theo giá tại biên bản định giá tài sản ngày 23/5/2024, và được quyền quản lý sử dụng diện tích đất 1,3m² góc căn nhà là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, kháng cáo của nguyên đơn bà Phương yêu cầu buộc bị đơn phải đập nhà để trả lại đất hoặc phải trả giá trị 1,3m² là 50.000.000 đồng là không có căn cứ nên không được chấp, cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Tuy nhiên, tại phần án phí tòa cấp sơ thẩm nhận định buộc bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch là 3.927.020 đồng là không phù hợp, bởi lẽ quan hệ tranh chấp giữa các bên là tranh chấp về ranh giới đất do đó theo khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên án phí dân sự sơ thẩm thì bị đơn chỉ phải chịu án phí không có giá ngạch, nên phần Quyết định tuyên chưa chính xác cần sửa lại cho phù hợp tình tiết khách quan vụ án.
[3]. Án phí dân sự sơ thẩm: theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại khoản 2 Điều 26, điểm a, b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên án phí dân sự sơ thẩm được tính như sau:
Ông Nguyễn Đình Súy phải chịu án phí có giá ngạch đối với giá trị 1,3m² đất là 6.822.400 đồng x 5% = 341.000 đồng.
Ông Nguyễn Đình Súy phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng.
[4]. Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định và định giá tài sản tranh chấp là 4.000.000 đồng và chi phí đo đạc tài sản tranh chấp 13.454.329 đồng bà Phương đã nộp, ông Súy có trách nhiệm hoàn trả tại cho bà Phương.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận bà Phương phải chịu 300.000đồng.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự,
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thị Lan Phương;
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước về phần án phí.
- Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, 148, 157, 165, 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 164 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166 và 203 Luật đất đai năm 2013 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị Lan Phương.
Buộc ông Nguyễn Đình Súy phải tháo dỡ bức tường xây bằng gạch không tô có chiều dài 22,06m, (trong đó tính từ mép đường vào sâu 10m là bức tường gạch cao 0,5m x10m, phía trên có gắn khung sắt cao 0,9m, còn lại là bức tường gạch có chiều dài 12,06m x 1,4m) trả lại diện tích đất lấn chiếm 11,1m² cho bà Vũ Thị Lan Phương và ông Nguyễn Tấn Tài quản lý sử dụng theo quy định pháp luật. (Có sơ đồ kèm theo).
Giao cho ông Nguyễn Đình Súy được quyền quản lý sử dụng diện tích đất 1,3m² của gốc phía sau căn nhà cấp 4. (Có sơ đồ kèm theo).
Ông Nguyễn Đình Súy trả lại cho bà Vũ Thị Lan Phương và ông Nguyễn Tấn Tài giá trị diện tích đất 1,3m² là 6.822.400 đồng (Sáu triệu tám trăm hai mươi hai ngàn bốn trăm đồng).
Ông Súy, bà Phương và ông Tài có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh biến động phù hợp với diện tích đất thực tế sử dụng.
2. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Đình Súy trả lại cho bà Vũ Thị Lan Phương số tiền chi phí thẩm định, định giá và đo đạc tài sản tranh chấp là 17.454.329 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm năm mươi bốn ngàn ba trăm hai mươi chín đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Đình Súy phải nộp số tiền 641.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi mốt nghìn đồng); Hoàn trả cho bà Vũ Thị Lan Phương số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0026080 ngày 03/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 02 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Vũ Thị Lan Phương phải chịu số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0001691 ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Hùng |
Bản án số 38A/2025/DS-PT ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 38A/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
