Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 389/2024/DS-PT

Ngày 31-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.

Các Thẩm phán: Ông Lê Sỹ Trứ.

Bà Ngô Thị Bích Diệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Thoại – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 214/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 273/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 349/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Roãn Khắc H, sinh năm 1978; địa chỉ: số F tổ D, đường D khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

- Ông Dương Trọng T, sinh năm 1998; địa chỉ: thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm 1989; địa chỉ: số G đường Đ tổ A, khu phố B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

Là người đại diện theo ủy quyền.

- Bị đơn: Ông Dương Quyết T1, sinh năm 1983; địa chỉ thường trú: xóm D, Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; địa chỉ tạm trú: tổ E, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

Viện Kiểm sát kháng nghị: Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 12/QĐKN-DS ngày 24/4/2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo Đơn khởi kiện ngày 13/7/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Quỳnh N và ông Dương Trọng T trình bày:

Ông Dương Quyết T1 có vay của ông Roãn Khắc H số tiền 308.000.000 đồng (ba trăm lẻ tám triệu đồng) để kinh doanh và mở rộng tiệm chim Phúc T2 tại địa chỉ số E đại lộ B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau khi vay được một tháng thì ông T1 đóng cửa hàng, ngừng việc kinh doanh và không trả tiền lãi hàng tháng theo hợp đồng, ông H liên lạc với ông T1 bằng điện thoại thì ông T1 không nghe máy và tắt máy. Ông H nhiều lần đến nhà ông T1 nhưng không gặp. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ trả lãi theo thỏa thuận là vi phạm hợp đồng nên ông H đã gửi văn bản thông báo chấm dứt hợp đồng và yêu cầu ông T1 trả tiền vay trước ngày 30/6/2023. Tuy nhiên, ông T1 vẫn không thanh toán nợ gốc và lãi nên ông H khởi kiện với nội dung như sau: Buộc ông Dương Quyết T1 trả số tiền gốc 308.000.000 đồng (ba trăm lẻ tám triệu đồng) và trả tiền lãi tính từ ngày 18/4/2023 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm là 28.120.400 đồng (308.000.000 đồng x 11 tháng x lãi suất 0,83%/tháng).

Ông Dương Quyết T1 có đăng ký địa chỉ thường trú tại xóm D, Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị và có đăng ký tạm trú tại địa chỉ nhà R, tổ E, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương từ ngày 23/11/2022 đến ngày 04/01/2024 thì không còn sinh sống tại địa phương (đã chuyển đi nơi khác sinh sống nhưng không thông báo với địa phương, hiện không rõ đi đâu làm gì).

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Roãn Khắc H.

Buộc ông Dương Quyết T1 có nghĩa vụ trả cho ông Roãn Khắc H số tiền 308.000.000 (ba trăm lẻ tám triệu) đồng.

- Buộc ông Dương Quyết T1 có nghĩa vụ trả cho ông Roãn Khắc H số tiền lãi là 28.120.400 (hai mươi tám triệu, một trăm hai mươi nghìn, bốn trăm) đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, về chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 24/04/2024 Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 12/QĐKN-DS ngày 24/4/2024 đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng nguyên đơn đã cung cấp chứng cứ chứng minh bị đơn có vay tiền của nguyên đơn theo “Giấy cho vay tiền” ngày 18/4/2023 với số tiền 308.000.000 đồng, bị đơn không tham gia tố tụng dù được Tòa án triệu tập hợp lệ được xem là từ bỏ quyền chứng minh, tranh tụng của mình trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, từ đó Tòa án tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở vững chắc: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa Bản án số 21/2024/DS-ST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Roãn Khắc H do bà Nguyễn Thị Quỳnh N đại diện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận quyết định kháng nghị, sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về việc vắng mặt của bị đơn ông Dương Quyết T1: Theo Biên bản xác minh ngày 04/01/2024, ông Dương Quyết T1 có đăng ký tạm trú tại nhà riêng Lê Thị Ngọc O, tổ E, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tại thời điểm xác minh, ông Dương Quyết T1 không có mặt tại địa chỉ trên, lý do đã chuyển đi nơi cư trú khác sinh sống nhưng không thông báo về địa phương nên không rõ làm gì, ở đâu và tại Kết quả xác minh ngày 01/4/2024 thể hiện ông Dương Quyết T1 đã đăng ký tạm trú tại địa chỉ trên vào ngày 23/11/2022. Do không xác định được địa chỉ nơi sinh sống của ông Dương Quyết T1, Tòa án cấp sơ thẩm đã thông báo đăng thông tin về thời gian giải quyết vụ án trên B vào các ngày 22/01/2024, 23/01/2024, 24/01/2024; phát thanh trên Đài Tiếng nói Việt Nam vào khung giờ từ 06 giờ 30 phút đến 07 giờ 00 phút và từ 14 giờ 30 phút đến 15 giờ 00 phút vào các ngày 25/01/2024, 26/01/2024, 27/01/2024 và đăng thông tin trên Cổng thông tin điện tử - Tòa án nhân dân Tối cao. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt ông Dương Quyết T1 là phù hợp với quy định tại các Điều 180, 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên yêu cầu phải thực hiện việc ủy thác xác minh về nơi thường trú của bị đơn để xem bị đơn có về nơi thường trú sinh sống hay không là không cần thiết. Theo quy định khoản 1 Điều 11 của Luật Cư trú năm 2020 nơi cư trú của công dân gồm nơi thường trú hoặc tạm trú. Theo đó, Tòa án cứ vào nơi tạm trú của bị đơn, nơi làm việc, nơi sinh sống cuối cùng của bị đơn và địa chỉ nơi các bên ký hợp đồng để tống đạt là phù hợp với quy định tại Điều 180 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc bị đơn thay đổi địa chỉ cư trú mà không thực hiện việc thông báo cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, không thông báo cho nguyên đơn là nhằm trốn tránh việc trả nợ và vi phạm nghĩa vụ của bên cho vay.

[2] Về nội dung vụ án: Theo nội dung Giấy cho vay tiền ngày 18/4/2023 thể hiện ông Dương Quyết T1 có vay của ông Roãn Khắc H số tiền 308.000.000 đồng, lãi suất 01%/tháng, thời hạn vay là 06 tháng. Do ông T1 không trả tiền lãi hàng tháng theo thỏa thuận nên ngày 08/6/2023, ông H gửi thông báo bằng văn bản cho ông T1 thông báo chấm dứt hợp đồng vay trước thời hạn, đồng thời yêu cầu ông T1 trả hết tiền vay và tiền lãi theo thỏa thuận nhưng ông T1 không thực hiện. Thời hạn kết thúc hợp đồng vay là ngày 01/10/2023. Do ông T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T1 trả số tiền gốc 308.000.000 đồng (ba trăm lẻ tám triệu đồng) và trả tiền lãi tính từ ngày 18/4/2023 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm là 28.120.400 đồng.

[3] Theo Giấy cho vay tiền ngày 18/4/2023 tại mục Bên vay có chữ ký, chữ viết Dương Quyết T1 và dấu vân tay, Tòa án cấp sơ thẩm đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B thu thập mẫu chữ ký, chữ viết và dấu vân tay của ông Dương Quyết T1 trong tàng thư căn cước công dân để thực hiện giám định nhưng Phòng K Công an tỉnh B không thu thập được nên không có cơ sở giám định. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để ủy thác thu thập chứng cứ là giám định chữ ký, chữ viết Dương Quyết T1 và dấu vân tay tại mục Bên vay trên Giấy cho vay tiền ngày 18/4/2023 đến Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Xét thấy, theo quy định tại khoản 4 của Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do và không nộp văn bản trình bày ý kiến về vụ án và các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án. Việc đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để ủy thác thu thập chứng cứ là giám định chữ ký, chữ viết và dấu vân tay tại mục Bên vay trên Giấy cho vay tiền ngày 18/4/2023 đến Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị là không cần thiết. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không ngừng phiên tòa và căn cứ vào những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án là phù hợp. Xét thấy, nguyên đơn đã cung cấp chứng cứ chứng minh bị đơn có vay tiền của nguyên đơn là “Giấy cho vay tiền” ngày 18/4/2023 có nội dung ông T1 có vay của ông H số tiền 308.000.000 đồng, lãi suất 01%/tháng, thời hạn vay là 06 tháng, đây là hợp đồng vay có thời hạn, có lãi theo quy định tại Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự. Thời điểm giao kết hợp đồng các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không bị lừa dối ép buộc (thể hiện ở việc ông T1 tự tay viết, ký tên, lăn tay vào Giấy vay tiền và giao cho ông H căn cước công dân sao y chứng thực ngày 17/4/2023, trước ngày vay tiền 01 ngày để làm tin). Hợp đồng được lập tại địa chỉ kinh doanh của ông T1. Việc vay tiền giữa ông H và ông T1 là giao dịch dân sự đáp ứng các điều kiện có hiệu lực theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự. Việc số tiền bằng số ghi nhầm (thiếu 3 số 0) là sơ sót trong quá trình lập văn bản nhưng đã thể hiện cụ thể bằng chữ là: Ba trăm lẻ tám triệu đồng. Do đó, giấy vay tiền là căn cứ xác lập quyền nghĩa vụ của bên vay và bên cho vay. Viện Kiểm sát kháng nghị cho rằng Giấy vay tiền là chứng cứ duy nhất, bị đơn vắng mặt nên không có căn cứ xác định bị đơn ký, lăn tay vào giấy vay tiền, không có căn cứ biết xác định bị đơn biết việc mình bị khởi kiện nên việc giám định là cần thiết. Quyết định kháng nghị của Viện Kiểm sát là không có cơ sở, bởi lẽ nguyên đơn đã thực hiện đúng hợp đồng, đã giao tiền cho bị đơn, trong khi đó bị đơn nhận tiền nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả lãi cho nguyên đơn và trốn tránh, thay đổi địa chỉ nên nguyên đơn đã thông báo chấm dứt hợp đồng và khởi kiện theo quy định. Tòa án đã tiến hành đầy đủ thủ tục niêm yết, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để bị đơn đến Tòa án làm việc nhưng bị đơn không có mặt là tự từ bỏ quyền chứng minh của mình. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thanh toán số tiền gốc là 308.000.000 đồng và số tiền lãi 28.120.400 đồng (308.000.000 đồng x 11 tháng x lãi suất 0,83%/tháng) là phù hợp với quy định tại Điều 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là chưa phù hợp.

Từ những phân tích trên, xét thấy không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên.

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
  • 1. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 12/QĐKN-DS ngày 24/4/2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  • Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  • 2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - TAND thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 389/2024/DS-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 389/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger