Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 389/2025/DS-PT

Ngày: 26/05/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sở hữu nhà ở và

quyền sử dụng đất ở; yêu cầu tuyên

bố văn bản công chứng vô hiệu

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Chí Anh;

Các Thẩm phán:

1. Ông Đinh Như Lâm

2. Ông Chu Tuấn Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Sơn Cầm– Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 566/2024/TLPT–DS ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2024/DS-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 203/2025/QĐXXPT-DS ngày 21 tháng 03 năm 2025, Theo quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 242/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 04 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

  • Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1944 (Vắng mặt).
  • Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1940 (Đã chết).

Địa chỉ: Số nhà D, ngõ G, đường V, phường N, quận C, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị Bạch L, sinh năm 1979 (Có mặt).

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông H:

  1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1944 (vợ ông H).

Địa chỉ: Số nhà D, ngõ G, đường V, phường N, quận C, thành phố Hà Nội (Người đại diện theo uỷ quyền của bà N là chị L)

  1. Chị Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1976 (con gái ông H). Có mặt.

Địa chỉ: Tổ A phường N, quận C, thành phố Hà Nội.

  1. Chị Nguyễn Thị Bạch L, sinh năm 1979 (con gái ông H). Có mặt.

Địa chỉ: Số nhà D ngõ H đường L, phường N, quận C, thành phố Hà Nội.

Bị đơn:

  • Anh Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
  • Chị Lê Thị Hồng H1, sinh năm 1982 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ A phường N, quận C, Hà Nội.

Hiện chị H1 đang chấp hành án tại Đội 33 phân trại số 1, trại giam Quyết Tiến.

(Anh Đ vắng mặt; Chị H1 vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Văn phòng C. Vắng mặt.

Địa chỉ: Tiểu khu T, thị trấn P, huyện P, thành phố Hà Nội.

  1. Văn phòng C1. Vắng mặt.

Địa chỉ: Số A phố N Kon Tum, phường N, quận T, thành phố Hà Nội.

  1. Văn phòng C2. Vắng mặt.

Địa chỉ: G K, phường T, huyện T, thành phố Hà Nội.

  1. Văn phòng đăng ký đất đai quận C, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

Địa chỉ: Số C đường C, phường Q, quận C, thành phố Hà Nội.

  1. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (MB). Có mặt.

Địa chỉ: số A L, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T-Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hưng T1 và ông Hoàng Thái S và bà Phạm Thị T2 (ông S, bà T2 có mặt) (Theo văn bản uỷ quyền số 814/UQ-MBAMC ngày 16/1/2024).

  1. Công ty Cổ phần Đ1. Vắng mặt.

Địa chỉ: Nhà D (182) KĐT mới V, phường P, quận H, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Hồng H1 - Giám đốc.

  1. CTCP đầu tư thương mại và dịch vụ O1. Vắng mặt.

Địa chỉ: Số B ngõ D phố N Kon Tum, phường N, quận T, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn O – Chủ tịch HĐQT

Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Q1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Bố mẹ chị Nguyễn Thị Bạch L là bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn H có 01 thửa đất số 44(1p) + 55(1p) tờ bản đồ số 7 có diện tích 161,2 m², tại địa chỉ tổ A (nay là tổ A) phường N, quận C, Hà Nội, được UBND thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc 56.2003.QĐUB/96.2003 mang tên bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn H. Khoảng năm 2015, chị Lê Thị Hồng H1 và chồng là anh Nguyễn Đức Đ (cháu ruột bà N) có đến gặp bà N trình bày việc có người khách hàng gán nợ cho chị H1 là một thửa đất nhưng giá trị lớn gần gấp đôi số tiền nợ phải trả nên vợ chồng chị H1, anh Đ cần một khoản tiền vài trăm triệu để trả phần chênh lệch, vì vậy vợ chồng anh Đ, chị H1 có đề nghị bà N cho mượn giấy chứng nhận QSHNƠ và QSDĐƠ để vay tiền ngân hàng và hứa sẽ trả lại ngay. Sau khi mượn được giấy, chị H1 đã dẫn người đến nhà ông H, bà N và bảo ông, bà ký vào văn bản nhưng không đọc nội dung của văn bản này cho ông bà nghe. Sau khi ký xong văn bản này, ông H, bà N không được giữ bất kỳ một văn bản nào. Sau này ông H, bà N mới biết văn bản ông bà ký là Hợp đồng ủy quyền số 6308PX/2015/HĐCN ngày 02/11/2015 do Văn phòng C, chứng thực. Trong vụ việc này, ông bà không nhận được khoản tiền nào từ chị H1, anh Đ.

Sau đó, anh Đ có đến chở ông H đi làm lại chứng minh nhân dân vì lúc đó ông H chỉ có giấy chứng nhận sĩ quan từ năm 1977 và anh Đ là người trực tiếp đi lấy chứng minh nhân dân mới cho ông H. Ông H, bà N không hề biết đến toàn bộ các công việc, hoạt động liên quan đến sổ đỏ mà là do vợ chồng chị H1, anh Đ tự ý giao dịch, ký kết, thực hiện với các tổ chức, cá nhân đơn vị để sử dụng với nhiều mục đích nhằm tư lợi.

Việc chị H1, anh Đ tự ý chuyển nhượng nhà đất đã được cấp giấy chứng nhận mang tên ông H, bà N sang cho anh Đ tại văn phòng C1 thì ông H, bà N không hề hay biết. Sau đó, chị H1, anh Đ đã dùng sổ đỏ đó để làm tài sản sản thế chấp cho khoản vay của công ty Đ1 do chị H1 là giám đốc tại ngân hàng TMCP Q1 - chi nhánh T3, Hà Nội và ông H, bà N cũng không hề biết gì.

Chị L có trình bày những sai phạm của các Văn phòng Công chứng và Ngân hàng TMCP Q1 như sau:

  1. 1. Sai phạm của Văn phòng C: Bản Hợp đồng uỷ quyền số công chứng 6308 PX/2015/HĐCN ngày 02/11/2015 mà văn phòng C cung cấp cho gia đình bà N không có các phần sửa chữa viết thêm như các bản Hợp đồng uỷ quyền số

công chứng 6308 PX/2015 ngày 02/11/2015 mà Văn phòng C cung cấp cho Toà án cũng như Toà án thu thập được. Ông H, bà N không hề biết đến việc sửa chữa, bổ sung nội dung các Hợp đồng uỷ quyền trên.

  1. Sai phạm của Văn phòng C1 trong việc công chứng Hợp đồng chuyển nhượng QSHNƠ và QSDĐƠ, ngày 28-02-2018 (số công chứng 01280. 2018/HĐCN, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD):
    • Trong Hợp đồng ủy quyền, số 6308 PX/2015/HĐCN do Văn phòng C chứng thực ngày 02-11-2015, vợ chồng ông H, bà N ủy quyền cho chị H1 toàn quyền định đoạt đối với QSDĐ (mà không ủy quyền đối với QSH nhà ở) đối với thửa đất tại địa chỉ tổ A (nay là tổ A) phường N, quận C, Hà Nội. Trong khi đó tài sản được ghi nhận trong GCNQSH nhà ở và QSDĐƠ mà vợ chồng ông H, bà N được cấp gồm hai phần: Nhà ở và đất ở.
    • Trong Hợp đồng chuyển nhượng QSHNƠ và QSDĐƠ, ngày 28-02-2018 (lập tại Văn phòng C1, số công chứng 01280.2018/HĐCN, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD) lại chứng nhận việc chị H1 chuyển nhượng cho anh Đ cả QSDĐƠ (phần tài sản được uỷ quyền) và cả QSHNƠ (phần tài sản không được ủy quyền). (Có văn bản Cam kết tài sản riêng do Văn phòng C1 chứng thực là không đúng thẩm quyền). Nội dung Hợp đồng chuyển nhượng nói trên vượt quá phạm vi ủy quyền được xác lập trong Hợp đồng ủy quyền. Việc chuyển nhượng và công chứng của Văn phòng C1 nêu trên là trái pháp luật, dẫn đến là cơ sở để anh Nguyễn Đức Đ được sở hữu Giấy chứng nhận QSHNƠ và QSDĐƠ tại thửa đất tại địa chỉ tổ A (nay là tổ A) phường N, quận C, Hà Nội và sau đó Giấy chứng nhận này đã được anh Đ sử dụng để thế chấp đảm bảo cho khoản vay hơn 6 tỷ đồng của Công ty Cổ phần Đ1 (đại diện là chị H1 vợ anh Đ), tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (Q1) - Chi nhánh T3, Hà Nội.
  2. 3. Sai phạm của các cán bộ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (MB) - Chi nhánh T3, Hà Nội trong việc thẩm định và thực hiện Hợp đồng cấp tín dụng số 6199.18.180.1220031.TD, ngày 03-3-2018 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (MB) - Chi nhánh T3 với Công ty Cổ phần Đ1:
    • 3.1. Về thẩm định: Cán bộ thẩm định đã dựa vào “Báo cáo tài chính” do khách vay là Công ty Cổ phần Đ1 cung cấp để xác định: “Đối chiếu in từ HTKKT” (Nguyễn Văn Q ký tên). Trong khi đó, tại phần cuối của cả 03 trang trong Báo cáo tài chính có xác nhận nói trên, đều ghi dòng “Ký điện tử bởi Công ty Cổ phần Đ1. Chứng thư số không hợp pháp”. Như vậy, việc cán bộ thẩm định của Ngân hàng dựa vào văn bản có chữ ký không hợp pháp để xác định như trên là hoàn toàn trái pháp luật.

Tại bản báo cáo kết quả thẩm định tài sản lập ngày 02/3/2018 có ghi: “Bà Nguyễn Thị N - chủ sử dụng đất - là bác ruột của chồng khách hàng...”, “Bất động sản hiện đang được chủ tài sản sử dụng để ở”. Điều này thể hiện rõ việc Ngân hàng biết rõ tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của ông H, bà N nhưng cán bộ ngân hàng đã không xuống xem xét, thẩm định thực tế, trao đổi, hỏi ý kiến của ông bà là người hiện đang sinh sống tại bất động sản đó là không đúng quy định của pháp luật.

Trong Báo cáo đề xuất ngày 08-3-2018 (khách hàng vay là Công ty Cổ phần Đ1), các cán bộ Ngân hàng đã đề xuất xác định: “Hoạt động của Công ty có sự ổn định qua nhiều năm”, “năng lực tài chính của khách hàng ổn định, phát triển tốt”. Đó chính là căn cứ để Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (MB) - Chi nhánh T3 ký Hợp đồng cấp tín dụng nói trên. Trong báo cáo đề xuất này còn nhiều nội dung thể hiện sự thiếu trách nhiệm, thậm chí cố ý làm sai lệch thông tin về khách hàng, như sau:

  • + Xác định Công ty Cổ phần Đ1 có thời gian hoạt động trên 10 năm, trong khi Công ty này bắt đầu được thành lập ngày 04-6-2012;
  • + Xác định: “Bà Lê Thị Hồng H1, giám đốc Công ty là người có trên 15 năm trong lĩnh vực Công ty đang kinh doanh..., là người có năng lực chuyên môn...”, trong khi đó bà H1 không có bằng cấp chuyên môn trong lĩnh vực dược;
  • + Xác định lĩnh vực kinh doanh là “bán buôn, bán lẻ dược phẩm” thuộc lĩnh vực kinh doanh “không có điều kiện”, trong khi theo Luật Dược và các văn bản hướng dẫn thi hành thì đây là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện;

Thậm chí, sự thiếu trách nhiệm còn thể hiện trong kết luận: “Công ty N1 là khách hàng rất tiềm năng”, trong khi khách hàng là Công ty Cổ phần Đ1.

3.2. Sai phạm trong khâu xét duyệt hồ sơ vay vốn: Trong hồ sơ vay không có kế hoạch phương án kinh doanh của khách vay. Theo quy định của Ngân hàng N2 thì kế hoạch phương án kinh doanh là tài liệu bắt buộc phải có trong hồ sơ vay vốn. Nếu không có tài liệu này thì khách hàng vay không thể thuyết trình được khả năng và tiến độ trả nợ cho Ngân hàng.

Tuy hồ sơ vay của Công ty Đ1 không đầy đủ nhưng vẫn được lãnh đạo Ngân hàng TMCP Q1 - Chi nhánh T3 đồng ý xét duyệt bằng cách ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu để cho vay một khoản tiền rất lớn.

Tiếp nữa, cũng trong hồ sơ vay có “Hợp đồng nguyên tắc” được ký kết ngày 02-02-2018, giữa Công ty cổ phần O1 (gọi tắt là Công ty O1) và Công ty Cổ phần Đ1 và nhiều “Đơn đặt hàng” Công ty Đ1 gửi Công ty O1.

Các tài liệu này thể hiện rõ việc hai Công ty này mua bán hàng hóa là các loại thuốc. Do “Thuốc là dược phẩm - là mặt hàng kinh doanh có điều kiện”, nên các bên chỉ được phép mua, bán khi có đủ điều kiện pháp lý do pháp luật quy định (cụ thể là: Phải có Giấy phép do Sở Y tế cấp). Trong khi đó, trong GCNĐKKD do Sở K cấp cho Công ty Cổ phần O1 (bên bán) có ghi rõ: “Bán buôn đồ dùng khác cho gia đình (trừ dược phẩm)”. Đồng thời, tại thời điểm ký Hợp đồng nguyên tắc (ngày 02/02/2018), bà Lê Thị Hồng H1 không phải là đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần Đ1. Như vậy, việc hai Công ty này thực hiện giao dịch mua bán dược phẩm là hoàn toàn không được phép và trái với pháp luật.

3.3. Về việc thực hiện Hợp đồng cấp tín dụng số 6199.18.180.1220031.TD, ngày 03/3/2018:

Trên cơ sở Hợp đồng cấp tín dụng, ngày 14-3-2018 Công ty Cổ phần Đ1 có “Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ”, trong đó đề nghị giải ngân số tiền 6.149.990.000 (sáu tỷ, một trăm bốn chín triệu, chín trăm chín mươi nghìn) đồng với mục đích “Thanh toán tiền hàng”.

Trong hồ sơ vay do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (MB) - Chi nhánh T3 cung cấp cho Tòa án, có “Hợp đồng nguyên tắc” số 020218/HĐNT/OTT-BL, ký ngày 02-02-2018 giữa Công ty Cổ phần O1 (bên A) và Công ty Cổ phần Đ1 (bên B). Điều 2 Hợp đồng này xác định rõ: “Bên B thanh toán cho bên A theo từng đơn đặt hàng; không quá 20 ngày kể từ ngày bên B nhận được hàng hóa và các giấy tờ kèm theo: Đề nghị thanh toán + Hóa đơn tài chính hợp lệ”.

Trong khi đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (MB) - Chi nhánh T3 đã tiến hành giải ngân khi không có tài liệu chứng minh Công ty Cổ phần Đ1 đã nhận được hàng hóa như đã quy định trong Hợp đồng; không có tài liệu chứng minh việc Ngân hàng kiểm tra quá trình giao, nhận hàng hóa của khách hàng.

Việc giải ngân nói trên đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật về tín dụng: Sau khi nhận được hơn 6 tỷ đồng do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (MB) - Chi nhánh T3 chuyển vào tài khoản của mình, Công ty Cổ phần O1 (bên xuất hóa đơn) đã báo hủy Hóa đơn số 0000050; đồng thời, Công ty Cổ phần Đ1 (bên mua hàng) cũng không đưa việc mua bán theo “Hợp đồng nguyên tắc” số 020218/HĐNT/OTT-BL, ký ngày 02-02-2018 nói trên vào “Tờ khai thuế GTGT” quý 1 năm 2018 (tại mục “Giá trị và thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào” ghi số tiền chịu thuế của quý 1 năm 2018 là 1.457.548.128 đồng, trong khi chỉ riêng Hóa đơn số 0000050 đã có giá trị là 6.149.990.000 đồng).

Điều này thể hiện rõ việc không có việc mua bán thuốc giữa Công ty Cổ phần O1 với Công ty Cổ phần Đ1. Những người đại diện theo pháp luật của các công ty này đã cấu kết với nhau, lập hồ sơ giả để rút tiền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (MB) - Chi nhánh T3. Tại lời khai của H1 còn thể hiện ở bản “Hợp đồng nguyên tắc” số 020218/HĐNT/OTT-BL, ký ngày 02-02-2018 giữa Công ty Cổ phần O1 (bên A) và Công ty Cổ phần Đ1 (bên B) là do H1 tự ký nhằm mục đích hợp thức hóa hồ sơ để được cấp tín dụng của Ngân hàng TMCP Q1 và Ông O không ký bất cứ tài liệu nào.

Hiện nay, Công ty Cổ phần Đ1 không có khả năng thanh toán khoản vay theo Hợp đồng cấp tín dụng số 6199.18.180.1220031.TD, ngày 03-3-2018 và đã tạm dừng hoạt động. Do đó, việc thu hồi khoản tiền 6.149.990.000 (sáu tỷ, một trăm bốn chín triệu, chín trăm chín mươi nghìn) đồng mà Ngân hàng đã cho Công ty Cổ phần Đ1 vay chỉ còn trông chờ vào việc phát mại tài sản thế chấp là nhà đất tại tổ A phường N, quận C, Hà Nội (nay là số D ngõ G tổ A đường V, phường N, quận C, Hà Nội). Trong khi đó, tài sản này đang bị tranh chấp và đây là tài sản của bố mẹ bà L, cụ thể là giấy chứng nhận QSHNƠ và QSDĐƠ đang bị thế chấp tại ngân hàng TMCP Q1 - Chi nhánh T3, Hà Nội.

Ngoài ra, Ông Nguyễn Đức Đ (chồng Huế) đã thừa nhận không có việc mua bán thật giữa Bà H1 và Ông Đ tại bản Hợp đồng chuyển nhượng QSHNOƠ và QSDĐƠ theo số công chứng 01280.2018/HĐCN do Công chứng viên của Văn phòng C1 chứng nhận là giả tạo, nhằm mục đích để cho H1 vay tín dụng của Ngân hàng TMCP Q1.

Do đó, nguyên đơn đề nghị Tòa giải quyết các yêu cầu sau:

  • - Tuyên vô hiệu đối với các Hợp đồng ủy quyền số công chứng: 6308PX/2015 n gày 02/11/2015 do Văn phòng C, chứng thực việc ký kết uỷ quyền giữa ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N và chị Lê Thị Hồng H1;
  • - Tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng QSHNƠ và QSDĐƠ số 01280.2018/HĐCN ngày 28/02/2018, do Văn phòng C1 công chứng, chứng thực việc ký kết chuyển nhượng giữa chị Lê Thị Hồng H1 và anh Nguyễn Đức Đ.
  • - Tuyên vô hiệu Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng: 00878/2018/HĐTC ngày 09/3/2018 do Văn phòng C2, thành phố Hà Nội công chứng, chứng thực việc thế chấp giữa anh Nguyễn Đức Đ với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (MB) - Chi nhánh T3 - Hà Nội.
  • - Buộc anh Nguyễn Đức Đ, chị Lê Thị Hồng H1, ngân hàng TMCP Q1 trả lại cho chủ sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở là bà Nguyễn Thị N và chồng là ông Nguyễn Văn H (đã chết) giấy chứng nhận QSHNƠ và QSDĐƠ mà UBND thành

phố H cấp cho ông H, bà N theo quyết định số 10113011935, hồ sơ gốc số 96.2003/56.2003.UBND ngày 03/1/2003.

  • - Yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của các loại văn bản bị tuyên vô hiệu: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý về phần xác định lỗi và bồi thường thiệt hại mà chỉ yêu cầu các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận.

Ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.

Tại bản tự khai và tại các buổi làm việc tại Toà án, bị đơn anh Nguyễn Đức Đ trình bày:

Anh Đ có bác ruột là bà Nguyễn Thị N, là người sở hữu hợp pháp thửa đất số 44(1p) + 55(1p) tờ bản đồ số 7 có diện tích 161,2 m², tại địa chỉ tổ A (nay là tổ A) phường N, quận C, Hà Nội, được UBND thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số 96.2003 mang tên bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn H. Khoảng đầu năm 2016, anh được biết bà N có nhờ vợ anh là chị Lê Thị Hồng H1 mang sổ đỏ đi thế chấp ngân hàng để vay giúp cho con gái bác là chị Nguyễn Thị Kim L1 một số tiền để đi mua nhà chung cư. Việc vợ anh đem sổ đỏ đi vay ở đâu, vay bao nhiêu và có đưa tiền cho hai bác hay không thì anh hoàn toàn không được biết. Buổi sáng ngày 26/2/2018, vợ anh có gọi anh ra quán cà phê trao đổi là sổ đỏ của hai bác đã đến ngày đáo hạn ở ngân hàng, nếu không có tiền đáo hạn thì ngân hàng sẽ thu nhà là tài sản bảo đảm đã được thế chấp tại ngân hàng. Chị H1 có nói là đã hỏi công ty T4 và công ty chỉ cho vay tiền để rút sổ đỏ ra khỏi ngân hàng với điều kiện anh phải là người ký vào giấy vay và chị H1 phải làm thủ tục sang tên nhà đất của hai bác cho anh. Chị H1 cũng nói là đã nói chuyện với cả hai bác và hiện tại chị đang có mấy mảnh đất đang được ngân hàng thẩm định giá, khi nào ngân hàng cho vay thì chị H1 lấy tiền chuộc sổ đỏ ra và sang tên lại, làm sổ mới trả lại cho hai bác. Vì vậy, lo sợ hai bác bị mất nhà và tin tưởng vợ nên anh Đ đã đồng ý với phương án của vợ. Chiều ngày 26/2/2018, chị H1 đưa anh Đ đến công ty tài chính ở H, tại đây chị H1 đã ký 01 giấy vay nợ và chị H1 đã trực tiếp nhận tiền của công ty T4 đem rút sổ đỏ ở ngân hàng. Đến ngày 28/2/2018, chị H1 đưa anh Đ ra Văn phòng C1 ở địa chỉ số A N Kon Tum, phường N, quận T, Hà Nội làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số công chứng 01280.2018/HĐCN, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD mang tên hai bác là bà N và ông H sang tên anh. Theo Hợp đồng chuyển nhượng, anh Đ phải trả chị H1 số tiền 500.000.000 đồng nhưng trên thực tế hai bên không đưa tiền cho nhau và không giao nhận nhà, đất. Sau đó, chị H1 cầm các giấy tờ đi

làm thủ tục vay tiền ở ngân hàng thương mại cổ phần Q1 - chi nhánh T3, Hà Nội.

Đến đầu tháng 3/2018, chị H1 đưa anh Đ đến Văn phòng công chứng ở khu vực L để ký Hợp đồng bảo lãnh cho Công ty Cổ phần Đ1 vay số tiền là 6.103.953.000 đồng tại ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1, có tài sản bảo đảm là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với thửa đất mà anh Đ đang đứng tên theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số công chứng 01280.2018/HĐCN, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD. Tất cả các giao dịch tiếp theo do chị H1 làm và anh Đ không nhận được bất cứ khoản tiền nào trong khoản vay đó.

Sau đó, chị H1 có nói với anh là đã trả tiền cho công ty T4 số tiền mà anh đã ký giấy vay và chị H1 đưa anh Đ tờ giấy vay nợ số tiền mà anh đã ký tên. Ngay sau khi nhận lại tờ giấy này, anh đã xé bỏ. Đến đầu tháng 4/2018, chị H1 đã bỏ nhà đi. Trong thời gian bỏ đi, chị có gọi điện về hỏi thăm tình hình ở nhà một vài lần, hỏi xem có ai đến đòi nợ, phá phách gì không nhưng không cho anh biết hiện nay đang ở đâu. Anh Đ có điện thoại nhiều lần cho chị H1 nhưng không liên lạc được. Cho đến hiện nay theo như anh được biết thì chị H1 đang chấp hành án tại Trại giam Q2.

Nay bà N, ông H khởi kiện anh Đ và chị H1 ra tòa, yêu cầu anh Đ và chị H1 phải trả lại cho ông bà Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đứng tên hai ông bà và yêu cầu tuyên bố vô hiệu các văn bản công chứng, vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số công chứng 01280.2018/HĐCN, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ký kết giữa anh và chị H1, vô hiệu Hợp đồng thế chấp, anh có quan điểm như sau: Việc chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở giữa anh và chị H1 thực chất là giả tạo để sang tên sổ đỏ mang tên anh, ký hợp đồng thế chấp đảm bảo khoản vay của công ty chị H1 lấy tiền của ngân hàng, tất cả mọi việc đều do chị H1 thực hiện còn anh thì tin tưởng làm theo chị H1 nói vì lúc đó anh chị còn là vợ chồng. Chứ thực tế anh không được hưởng bất kỳ quyền lợi gì. Do đó, anh Đ cũng nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có ý kiến gì thêm.

Lời khai tại biên bản ghi lời khai ngày 06/1/2023 và biên bản lấy lời khai đối chất ngày 06/1/2023, bị đơn chị Lê Thị Hồng H1 đồng thời là người đại diện theo pháp luật của CTCP đầu tư Đ1 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã trình bày như sau:

Chị H1 và anh Nguyễn Đức Đ là vợ chồng, anh Đ là cháu ruột bà Nguyễn Thị N. Chị là giám đốc của công ty Cổ phần Đ1.

Năm 2015, bà N và ông H nhờ chị H1 vay hộ số tiền 6 tỷ đồng để mua nhà cho con gái. Quá trình vay ngân hàng do nhiều thủ tục nên ông bà có nhờ chị đứng ra nhận vay hộ số tiền trên. Ngày 02/11/2015 chị H1 cùng ông H, bà N đến văn phòng C địa chỉ tại Tiểu khu T, thị trấn P, huyện P, Hà Nội để làm thủ tục ủy quyền từ ông bà sang cho chị mảnh đất số 44 (1h) + 55 (1h) tờ bản đồ số 7, có diện tích 161,2m² và tài sản gắn liền với đất, để làm tài sản thế chấp khoản vay tại ngân hàng V - Chi nhánh P. Chị H1 đã đưa cho bà N toàn bộ số tiền 6 tỷ đồng tiền mặt. Sau đó khoản vay này đã được chị H1 thanh toán và chị đã rút lại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 20113011935 mang tên bà N, ông H. Số tiền 6 tỷ đồng này bà N, ông H chưa trả cho chị.

Sau khi nhận lại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất trên chị H1 đã thực hiện vay tiền ở Ngân hàng khác. Để được vay, chị H1 đã làm thủ tục chuyển nhượng nhà đất trên cho anh Nguyễn Đức Đ theo hợp đồng số 01280.2018 ngày 28/2/2018 tại Văn phòng C1 số 101 N Kon Tum, phường N, quận T, Hà Nội. Giá trị chuyển nhượng là 500.000.000 đồng.

Thực tế việc lập hợp đồng chuyển nhượng này chỉ là thủ tục để hợp thức việc trả nợ sau này vì anh Đ có quan hệ là cháu ruột bà N, sẽ có trách nhiệm thực hiện việc rút tài sản khi ông H, bà N thanh toán khoản nợ 6 tỷ cho ngân hàng, chứ không có việc giao nhận 500 triệu đồng để thanh toán nhà đất này.

Sau khi tiến hành chuyển nhượng đất và nhà ở trên cho anh Đ, chị H1 có trao đổi đề nghị Đ đưa lại Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số [...] 35 và các giấy tờ liên quan để chị H1 tiến hành vay số tiền 6.149.990.000 đồng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (MB) - Chi nhánh T3 - Hà Nội. Đứng tên khoản vay là Công ty Cổ phần Đ1 do chị H1 là giám đốc, mục đích khoản vay: Cấp tín dụng phục vụ hoạt động kinh doanh dược phẩm, vật liệu y tế của Công ty Đ1 giai đoạn năm 2018.

Quá trình thực hiện khoản vay, do ngân hàng Q1 không chấp nhận giấy ủy quyền nên chị H1 đã chuyển nhượng lại mảnh đất trên cho anh Đ để tiến hành vay vốn tại ngân hàng Q1. Trong hồ sơ vay vốn tại ngân hàng Q1 có hợp đồng nguyên tắc số 020218/HĐNT - OTT-BL ngày 02/2/2018 ký kết giữa đại diện công ty O1 là ông Lê Văn O, hóa đơn giá trị gia tăng số 050 ngày 13/3/2018 phần chức danh thủ trưởng đơn vị đứng tên chủ tịch HĐQT là Lê Văn O. Bảng kê số 13032018 ngày 13/3/2018 đứng tên đơn vị bán hàng là ông Lê Văn O đại

diện công ty O1. Đề nghị thanh toán ngày 13/3/2019 chữ ký phần tên đại diện công ty O1 mang tên ông Lê Văn O.

Tất cả các chữ ký mang tên Lê Văn O này là do chị tự ký ra tại trụ sở Công ty O1. Do thời gian này chị đang giữ chức vụ Phó Giám đốc Công ty O1, bản thân ông Lê Văn O bị nghỉ ốm nên để duy trì hoạt động của Công ty và để hợp thức hóa khoản vay cho Công ty Đ1 do chị giữ chức vụ Giám đốc.

Khi tự ký các hợp đồng, đề nghị thanh toán, bảng kê..., Công ty O1 không có số hàng hóa theo đơn đặt hàng ngày 06/3/2018 của Công ty Đ1 vì các giấy tờ này là việc hợp thức hóa khoản vay nên Công ty O1 hoàn toàn không có số hàng hóa theo đơn đặt hàng ngày 06/3/2018.

Sau khi Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (MB) - Chi nhánh T3 - Hà Nội giải ngân số tiền 6.149.000.000 đồng vào khoảng tháng 3/2018 vào tài khoản Công ty O1 tại V1, chị đã chỉ đạo bên Công ty O1 rút toàn bộ số tiền trên chuyển lại cho chị trả các khoản vay bên Công ty Đ1.

Tại trang 5 của Hợp đồng ủy quyền số công chứng 6308PX/2015/HĐUQ ngày 02/11/2015 của Văn phòng C có ghi thêm dòng chữ :“Tôi sửa, thay thế cụm từ quyền sử dụng đất” bằng “quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất” chị không nhớ là do ai viết nhưng có sự chứng kiến của chị H1, bà N, ông H với mục đích ủy quyền cho chị định đoạt toàn bộ nhà đất theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nêu trên.

Khoản vay của Công ty Đ1 do chị H1 làm giám đốc, đối với Ngân hàng Q1 đến nay đã hết hạn từ tháng 9/2018. Chị H1 chưa thanh toán được cho Ngân hàng MB một khoản nợ nào theo Hợp đồng tín dụng mà công ty Đ1 đã ký kết với Ngân hàng Q1.

Năm 2018 chị và anh Nguyễn Đức Đ đã ly hôn.

Nay ông H, bà N khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở giữa chị và anh Nguyễn Đức Đ và tuyên bố Hợp đồng ủy quyền giữa chị, ông H, bà N là vô hiệu, chị đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và yêu cầu ông H, bà N phải trả lại cho chị H1 số tiền 6.000.000.000₫ (sáu tỷ đồng). Tuy nhiên, việc vay tiền giữa chị L1, ông H và bà N không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho khoản vay này.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (MB) do ông Nguyễn Hưng T1 là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Trong vụ kiện tranh chấp về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy thụ lý giải quyết, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 tham gia với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Ngân hàng

Thương mại Cổ phần Q1 có đơn yêu cầu độc lập, đề nghị Tòa án giải quyết các nội dung sau:

  • - Buộc Công ty Cổ phần Đ1 thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 theo Hợp đồng tín dụng số 6199.18.180.1220031.TD ngày 14/03/2018 và các Khế ước nhận nợ đã ký tạm tính đến ngày 14/6/2024 số tiền: 10.118.378.107 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 6.103.953.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 193.455.049 đồng; Nợ lãi quá hạn: 3.820.970.058 đồng.
  • - Buộc Công ty Cổ phần Đ1 thanh toán tiền nợ lãi phát sinh theo lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng cấp tín dụng số 100654.16.074.2986088 kể từ ngày 15/6/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ;
  • - Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty Cổ phần Đ1 không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành xử lý tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1, tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 44(1p)+55(1p), tờ bản đồ số 7 tại địa chỉ tổ A, phường N, quận C, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10113011935, hồ sơ gốc số 56.2003.QĐUB/96/2003 do UBND thành phố H cấp ngày 03/01/2003 cho bà Nguyễn Thị N và chồng là ông Nguyễn Văn H. Ngày 06/03/2018, Văn phòng C2 - Chi nhánh Quận C xác nhận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đức Đ theo hồ sơ số 1805000206BD.

Trường hợp cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp thì ngoài những người đang thực tế cư trú trên phạm vi khuôn viên tài sản, nếu còn có những người khác thì có đăng ký hộ khẩu hoặc không có hộ khẩu nhưng thực tế đang sinh sống tại địa chỉ này thì cũng có trách nhiệm chuyển dọn tài sản, đồ đạc ra khỏi khuôn viên tài sản để bảo đảm việc thi hành án.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán, xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công ty Cổ phần Đ1 đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1. Nếu số tiền thu được từ bán, xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty Cổ phần Đ1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1.

Đối với việc nguyên đơn trình bày chúng tôi có sự sai phạm trong quá trình cấp tín dụng cho Công ty Cổ phần Đ1, chúng tôi có ý kiến như sau: Tại thời điểm Ngân hàng nhận thế chấp, giấy tờ thế chấp liên quan đến tài sản thế chấp đã được các cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định pháp luật, hợp đồng

thế chấp được ký kết tự nguyện giữa các bên. Toàn bộ sự việc trước đây liên quan đến Hợp đồng ủy quyền giữa ông bà N, H với chị H1, anh Đ, chúng tôi không tham gia và hoàn toàn không biết, không liên quan. Ngân hàng có hồ sơ định giá tài sản bảo đảm, tuy nhiên tại thời điểm đó pháp luật không quy định về việc thẩm định tài sản bảo đảm trước khi thế chấp nên ngân hàng chỉ tiến hành định giá và cung cấp tín dụng theo quy định pháp luật tại thời điểm trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Văn phòng C trình bày tại văn bản số 40/2023/CV ngày 11/4/2023 như sau:

Việc thực hiện công chứng Hợp đồng uỷ quyền số 6308PX/2015/HĐUQ ngày 02/11/2015 được văn phòng thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về công chứng và các quy định của pháp luật khác có liên quan. Các thông tin về nội dung, thời gian, địa điểm công chứng được thể hiện cụ thể trong hợp đồng ủy quyền.

Do đó, đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1 trình bày tại văn bản số 34/CV-CCĐĐ ngày 10/4/2023 như sau:

Ngày 28/12/2018, Văn phòng C1 nhận được yêu cầu công chứng Hợp đồng chuyển nhượng QSHNƠ và QSDĐƠ đối với thửa đất và nhà tại địa chỉ: thửa đất số 44 (1p) + 55(1p), tờ bản đồ số 7 tại địa chỉ: Tổ A phường N, quận C, Hà Nội theo Giấy chứng nhận QSHNƠ và QSDĐƠ số 10113011935, hồ sơ gốc số 56.2003.QĐUB/96.2003 được UBND thành phố H cấp ngày 03/1/2003 giữa bên chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn H (đại diện cho bên nhận chuyển nhượng trong giao kết Hợp đồng này là bà Lê Thị Hồng H1) theo Hợp đồng uỷ quyền số công chứng 6308XP/2015/HĐUQ, quyển số 01VP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận ngày 17/7/2015) với bên nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Đức Đ. Cụ thể như sau:

Văn phòng C1 sau khi tiếp nhận yêu cầu công chứng đã kiểm tra bản chính hồ sơ tài sản, kiểm tra bản chính hồ sơ nhân thân, kiểm tra Hợp đồng uỷ quyền và Văn bản cam kết tài sản riêng, kiểm tra năng lực hành vi dân sự, thoả thuận tự nguyện của các bên giao kết hợp đồng cũng như kiểm tra mục đích, nội dung H2 đòng uỷ quyền không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên đã thực hiện công chứng hợp đồng này theo đúng quy định của pháp luật.

Việc thực hiện hợp đồng, xác lập thực hiện các văn bản thoả thuận khác (nếu có) do các bên tự thực hiện, ngoài sự chứng kiến của Công chứng viên nên phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Văn phòng C2 trình bày tại văn bản số 007/2024/CV-VPCCVX ngày 05/2/2024 như sau:

Văn phòng thực hiện công chứng hợp đồng thế chấp trên dựa vào văn bản cam kết tài sản riêng số công chứng 01279.2018/VBCK, quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD do văn phòng C1 chứng nhận ngày 28/2/2018 giữa bà H1 và anh Đ và Giấy chứng nhận QSHNƠ và QSDĐƠ số 10113011935 tại thửa đất số 44(1p) + 55(1p) tại địa chỉ tổ A (nay là tổ A) phường N, quận C, Hà Nội được văn phòng C2 quận C xác nhận đăng ký sang tên cho anh Đ . Căn cứ vào những văn bản nêu trên, việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng được thực hiện theo đúng quy trình, quy định của Luật công chứng nói riêng và quy định của pháp luật nói chung.

Đề nghị Toà án xem xét yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng: 00878/2018/HĐTC ngày 09/3/2018 tại Văn phòng C2 theo đúng quy định pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Văn phòng C2 chi nhánh quận C trình bày tại văn bản số 21/CNQCG ngày 15/1/2024 như sau:

Việc đăng ký sang tên chủ sở hữu, sử dụng Giấy chứng nhận QSHNƠ và QSDĐƠ số 10113011935 tại thửa đất số 44(1p) + 55(1p) tại địa chỉ tổ A (nay là tổ A) phường N, quận C, Hà Nội từ ông H, bà N cho anh Nguyễn Đức Đ được thực hiện dựa trên Hợp đồng uỷ quyền số 6308PX/2015/HĐUQ do Văn phòng C3 ngày 02/11/2015 và Hợp đồng chuyển nhượng QSHNƠ và QSDĐƠ số 01280.2018/HĐCN do Văn phòng C1 lập. Sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng theo quy định, ngày 06/3/2018 Văn phòng C2 quận C đã đăng ký sang tên cho anh Đ vào Giấy chứng nhận nêu trên.

Ngày 09/3/2018, anh Đ thế chấp nhà đất nêu trên với Ngân hàng TMCP Q1 - chi nhánh T3, Hà Nội theo Hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất số công chứng: 00878/2018/HĐTC ngày 09/3/2018 tại Văn phòng Công chứng Vĩnh Xuân Thành phố C2. Hiện nay chưa xoá thế chấp.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan CTCP đầu tư thương mại và dịch vụ O1 do ông Lê Văn O là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày tại bản trình bày ý kiến như sau:

CTCP đầu tư thương mại và dịch vụ O1 do ông O là người đại diện theo pháp luật, hiện nay công ty không còn hoạt động và đã dừng từ năm 2018, tuy nhiên công ty chưa tuyên bố phá sản và chưa giải thể.

Ông hoàn toàn không liên quan, không biết gì về bản Hợp đồng nguyên tắc số 020218/HĐNT-OTT-BL ngày 02/2/2018 được ký kết giữa Công ty cổ

phần O1 và Công ty cổ phần Đ1. Tại thời điểm ký kết Hợp đồng nguyên tắc trên, ông O đang nghỉ ốm, không đến công ty làm việc. Chị Lê Thị Hồng H1 thời điểm đó đang giữ chức vụ Phó giám đốc kiêm kế toán trưởng của CTCP đầu tư thương mại và dịch vụ O1 đã tự ý giả chữ ký của ông O và tự đóng dấu vào bản Hợp đồng trên. Ông khẳng định hoàn toàn không biết và không liên quan đến bản Hợp đồng nguyên tắc đó. Việc chị H1 dùng Hợp đồng nguyên tắc trên để làm thủ tục vay vốn tại Ngân hàng TMCP Q1 ông không biết và không liên quan hồ sơ vay vốn.

Đối với số tài khoản 102010002217585 tại ngân hàng V2 là tài khoản của CTCP đầu tư thương mại và dịch vụ O1. Trong thời gian chị H1 còn làm việc tại công ty O1, chị H1 đã dùng số điện thoại của chị H1 để đăng ký với ngân hàng V3 về việc ngân hàng thông báo các giao dịch chuyển tiền đối với số tài khoản trên. Do đó việc Ngân hàng TMCP Q1 giải ngân số tiền 6.103.953.000đ vào tài khoản của công ty ông O hoàn toàn không biết và cũng không liên quan gì. Số tiền này chị H1 tự rút ra sử dụng vào việc gì ông cũng không biết. Nay có việc khởi kiện giữa các bên ông không liên quan gì và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2024/DS-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã quyết định:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 201 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 116, 122, 128 Bộ luật Dân sự năm 2005;
  • - Căn cứ Điều 117, 123, 124, khoản 2 Điều 133, Điều 127, khoản 3 Điều 132, 137, 201, 295, 429 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 2, khoản 3 Điều 5, 41, 50, 51, 52 Luật Công chứng năm 2014;
  • - Khoản 1, 5 Điều 9, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 36 Nghị định 23/2015/NĐ-CP
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 11 Luật Dược năm 2005;
  • - Căn cứ Điều 94 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ Điều 7, Điều 17, điểm d khoản 2 Điều 22 Thông tư 39/2016/TT-NHNN;
  • - Căn cứ Điều 24, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

I. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn H (những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn H là bà Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị Kim L1, chị Nguyễn Thị Bạch L).

  1. 1. Tuyên bố: Các hợp đồng ủy quyền số công chứng 6308 ngày 02/11/2015 do Văn phòng C công chứng, chứng thực việc ký kết giữa bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn H với chị Lê Thị Hồng H1 là vô hiệu.
  2. 2. Tuyên bố: Hợp đồng chuyển nhượng QSHNƠ và QSDĐƠ số 01280.2018/HĐCN ngày 28/02/2018 do Văn phòng C1 công chứng, chứng thực việc ký kết giữa chị Lê Thị Hồng H1 với anh Nguyễn Đức Đ là vô hiệu.
  3. 3. Tuyên bố: Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng 00878/2018/HĐTC ngày 09/3/2018 do Văn phòng C2 công chứng, chứng thực việc ký kết giữa anh Nguyễn Đức Đ với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (MB) - Chi nhánh T3 - Hà Nội là vô hiệu.
  4. 4. Buộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 phải làm các thủ tục giải chấp tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp trên cho bên thứ ba vay vốn là CTCP đầu tư Đ1 tại Văn phòng C2 và trả lại bản gốc Giấy chứng nhận QSHNƠ và QSDĐƠ số 10113011935, hồ sơ gốc số 56.2003.QĐUB/96.2003 do UBND thành phố H cấp ngày 03/01/2003 cho Bà Nguyễn Thị N và chồng là Ông Nguyễn Văn H do Văn phòng C2 - Chi nhánh quận C thành phố Hà Nội tiến hành thực hiện đăng ký biến động mang tên Ông Nguyễn Đức Đ theo hồ sơ số: 1805000206BD ngày 06/3/2018 cho Bà Nguyễn Thị N và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của Ông Nguyễn Văn H là Bà Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị Kim L1 và chị Nguyễn Thị Bạch L.

Ghi nhận sự tự nguyện của Bà Nguyễn Thị N, chị L1, chị L để bà N được toàn quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký biến động chủ sử dụng Giấy chứng nhận QSHNƠ và QSDĐƠ số 10113011935, hồ sơ gốc số 56.2003.QĐUB/96.2003 do UBND thành phố H cấp ngày 03/01/2003 do Văn phòng C2 - Chi nhánh quận C thành phố Hà Nội tiến hành thực hiện việc đăng ký biến động mang tên Ông Nguyễn Đức Đ theo hồ sơ số: 1805000206BD ngày 06/3/2018 từ Ông Nguyễn Đức Đ về lại tên chủ sở hữu là Bà Nguyễn Thị N theo Bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

II. Giành quyền khởi kiện vụ án dân sự khác cho chị Lê Thị Hồng H1 nếu sau này chị có căn cứ và có yêu cầu.

III. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1.

  1. Buộc Công ty Cổ phần Đ1 phải thanh toán cho ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 theo Hợp đồng tín dụng số 6199.18.180.1220031.TD ngày 14/03/2018 tạm tính đến ngày 14/6/2024 với tổng số tiền là 10.118.378.107 đồng, trong đó nợ gốc là 6.103.953.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 193.455.049 đồng, nợ lãi quá hạn là 3.820.970.058 đồng.

Buộc Công ty Cổ phần Đ1 thanh toán tiền nợ lãi phát sinh trên số nợ gốc theo lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng cấp tín dụng số 6199.18.180.1220031.TD với mức lãi suất là 10.87%/năm kể từ ngày 15/6/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng TMCP Q1.

  1. Không chấp nhận những yêu cầu khác của Ngân hàng TMCP Q1.

IV. Xác định Văn phòng C, Văn phòng C1, Văn phòng C2 có sai phạm trong việc lập hợp đồng công chứng; Văn phòng đăng ký đất đai quận C có sai phạm trong việc đăng ký biến động chủ sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở; Cán bộ ngân hàng TMCP Q1 có sai phạm trong việc cấp tín dụng. Nếu sau này các bên đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

V. Về án phí

  1. Về án phí sơ thẩm:
    • - Bà Nguyễn Thị N và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí dân sự 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005960 ngày 29/5/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
    • - Chị Lê Thị Hồng H1 và anh Nguyễn Đức Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Ngân hàng TMCP Q1 được trả lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 58.635.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0019394 ngày 25/4/2023 tại chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
    • - Công ty Cổ phần Đ1 phải chịu số tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 118.118.000 đồng.
  2. Về án phí phúc thẩm:

Ngân hàng TMCQ1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm dân sự. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0046263 ngày 01/7/2024 tại chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; và Điều 7a, 7b của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND.TP Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy;
  • - Chi cục THA DS quận Cầu Giấy;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Chí Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 389/2025/DS-PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

  • Số bản án: 389/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger