Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 389/2024/HS-ST

Ngày: 14 – 8 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Cao Quốc Hưng
  2. Bà Võ Thị Gái

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 318/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 427/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 100/2024/QÐST-HS ngày 09/8/2024 đối với bị cáo:

Lê Huỳnh Đ, sinh năm 1999 tại Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số I, Đường số A, Tổ B, khu phố T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Nhà không số, hẻm C, Đường L, khu phố P, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lái xe máy đào (Xe quốc); trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh T, sinh năm 1978 và bà Lê Thị Bé T1, sinh năm 1979; Bị cáo là con đầu trong gia đình có hai anh em; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Lê Văn H1 (Đã chết);

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1/ Bà Ngô Thị B, sinh năm 1942;

Địa chỉ: A, Đường số D, Tổ G, Khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền:

Chị Lê Thị Bảo T2, sinh năm 1992;

Địa chỉ: H, Đường số D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Giấy ủy quyền ngày 31/5/2024.

2/ Bà Võ Thị Trúc L, sinh năm 1968;

Địa chỉ: H, Đường số D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền:

Chị Lê Thị Bảo T2, sinh năm 1992;

Địa chỉ: H, Đường số D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Giấy ủy quyền ngày 25/10/2023.

3/ Chị Lê Thị Bảo T2, sinh năm 1992;

Địa chỉ: H, Đường số D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

4/ Chị Lê Thị Bảo C, sinh năm 1996;

Địa chỉ: H, Đường số D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền:

Chị Lê Thị Bảo T2, sinh năm 1992;

Địa chỉ: H, Đường số D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Giấy ủy quyền ngày 31/5/2024.

Chị T2, chị C có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 29/9/2023, Lê Huỳnh Đ uống bia cùng một số người bạn tại bãi xe máy đào T, phường L, thành phố T. Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, do trong bàn nhậu có người hút hết thuốc lá nên Đ điều khiển xe mô tô biển số 59X4-141.51 đi mua thuốc lá. Đ lưu thông trên đường N theo hướng từ cầu V đến ngã ba L. Khi đến trước địa chỉ nhà số A đường N, phường T, thành phố T thì Đ cho xe rẽ trái sang đường. Lúc này có anh Lê Văn H1 đang điều khiển xe mô tô biển số 51X2-82.97 lưu thông qua đường (lưu thông ngược hướng từ lề đường trái qua lề đường phải) và qua gần hết vạch sơn kẻ đường phân chia làn đường. Do Đ lưu thông với tốc độ nhanh, không chú ý quan sát nên đã để xe mô tô của Đ va chạm vào phần đầu phía bên trái của xe mô tô do anh H1 điều khiển làm cả hai người và xe ngã xuống đường.

Hậu quả: Anh H1 và Đ bị thương nặng, anh H1 được đưa đến bệnh viện C1 cấp cứu và chết vào ngày 01/10/2023. Đ được đưa vào bệnh viện L1 cấp cứu, sau đó chuyển đến bệnh viện C1 rồi chuyển đến bệnh viện Đ1 điều trị. Đến ngày 24/10/2023 thì Đ được xuất viện.

Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường thẳng, lát bê tông. Trên mặt đường có vạch sơn màu vàng không liên tục chia thành 02 phần đường xe lưu thông. Phần đường hướng từ ngã ba L đến cầu V rộng 03m90 và phần đường ngược lại có chiều rộng 04m10 áp dụng các loại xe lưu thông 02 chiều. Chọn mép đường phải hướng từ ngã ba L về hướng cầu V làm mép đường chuẩn. Có 01 vết cày của xe mô tô biển số 51X2-8297 để lại hiện trường. Đầu vết cày cách mép đường 03m70. Đuôi vết cày gắn liền với gác chân trước bên phải của xe biển số 51X2-8297 có kích thước 2,70m. Xe mô tô biển số 59X4-141.51 nằm nghiêng trên mặt đường, sau tai nạn đầu xe hướng về đường chuẩn, đuôi xe hướng chiều ngược lại. Xe mô tô biển số 51X2-8297 nằm lại hiện trường sau tai nạn, đầu xe hướng về mép đường chuẩn, đuôi xe hướng chiều ngược lại.

Kết luận giám định dấu vết va chạm số 6709/KL-KTHS ngày 22/11/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:

  1. Dấu vết phía trước xe mô tô biển số 59X4-141.51 (trượt xước mất sơn, bể vỡ các chi tiết: ốp mặt nạ, cung chắn bùn bánh trước, cung chắn gió, cụm đèn chiếu sáng trước, ốp mặt nạ, tay phanh) có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết phía trước bên trái xe mô tô biển số 51X2-8297 (biến dạng giỏ đựng đồ, trượt xước mất sơn, bám chất màu xanh ốp nhựa đầu xe; bể cung chắn gió, nứt vỡ ốp lốc máy) có chiều từ trước về sau. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa 02 phương tiện.
  2. Khi xảy ra va chạm, xe mô tô biển số 59X4-141.51 chuyển động thẳng đứng trên đường N hướng từ cầu V đi ngã ba L; còn xe mô tô biển số 51X2-8297 chuyển động thẳng đứng theo chiều ngược lại.
  3. Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường nằm trên phần bên trái đường N, hướng từ cầu V đi ngã ba L.

Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 59X4-141.51 và xe mô tô biển số51X2-8297 với phương tiện khác.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 11035/KL-KTHS ngày 20/11/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận nguyên nhân chết của anh Lê Văn H1 do chấn thương sọ não, trong máu không tìm thấy cồn và chất ma túy.

Bản kết luận giám định tổn thương thể trên người sống 106/KLTTCT-TTPY-2024 ngày 17/01/2024 đối với Lê Huỳnh Đ: chấn thương vùng đầu mặt, vỡ xương hàm trên, gãy xương mũi, vỡ sọ trán, tụ máu ngoài màng cứng và dập não xuất huyết vùng trán hai bên, tụ máu dưới màng cứng dọc liềm đại não, mắt trái thụt nhẹ....có tỉ lệ tổn thương tại thời điểm giám định là 83%.

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Lê Huỳnh Đ ngày 30/9/2023 tại bệnh viện L1 là 95mg/dl (vượt ngưỡng theo quy định).

Thu giữ camera hiện trường thể hiện trước đó anh Lê Văn H1 điều khiển xe mô tô đi ngược chiều (chiều bên phải hướng từ cầu V đến ngã ba L) để qua lề trái, khi xe rẽ trái qua phần đường theo chiều ngược lại thì Đ lưu thông với tốc độ nhanh, hướng từ cầu V đi ngã ba L, chạy rẽ trái đâm thẳng vào phía trước bên trái xe của anh H1, gây ra vụ tai nạn giao thông.

Cơ quan Điều tra đã mời Lê Huỳnh Đ ghi lời khai, Đ khai nhận toàn bộ hành vi như trên. Lê Huỳnh Đ và anh Lê Văn H1 có giấy phép lái xe.

Anh Lê Văn H1 làm nghề tài xế xe ô tô, ngày 29/9/2023, sau khi anh H1 đưa xe ô tô cất vào bãi xe thì anh H1 lấy xe mô tô đi về nhà, trên đường về nhà thì xảy ra vụ tai nạn giao thông như trên.

Ngày 07/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành T3 khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Huỳnh Đ.

Vật chứng vụ án:

  • Đoạn video ghi nhận hiện trường lúc xảy ra tai nạn.
  • 01 giấy phép lái xe tên Lê Huỳnh Đ.
  • 01 xe mô tô biển số 59X4-141.51.
  • 01 xe mô tô biển số 51X2-82.97.

Trách nhiệm dân sự: Lê Huỳnh Đ bồi thường cho gia đình bị hại 160.000.000 đồng. Chị Lê Thị Bảo T2 là đại diện gia đình bị hại xác nhận đã giải quyết xong về dân sự, gia đình đồng ý bãi nại cho bị cáo, không khiếu kiện gì về sau. Xe mô tô hư hỏng các bên tự sữa chữa không có yêu cầu gì khác.

Tại bản Cáo trạng số 295/CT-VKSTPTĐ ngày 04/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Lê Huỳnh Đ về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, bị cáo đồng ý với các kết luận giám định, biên bản thực nghiệm điều tra, quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng và không có ý kiến gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Lê Huỳnh Đ từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 4 năm đến 5 năm.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Bị cáo Đ không có ý kiến tranh luận, bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình, hoàn cảnh gia đình của bị cáo rất khó khăn, hiện đang là lao động chính trong gia đình, bản thân bị cáo bị chấn thương nặng vùng đầu phải chịu di chứng do chấn thương, vẫn đang phải uống thuốc điều trị và thăm khám theo định kỳ, nên xin Hội đồng xét xử cân nhắc hình phạt cho bị cáo, để bị cáo được chữa bệnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1] Xét phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản khám phương tiện, bản ảnh phương tiện, hình ảnh camera, biên bản khám nghiệm tử thi, kết quả giám định pháp y... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Vào khoảng 21 giờ 20 phút ngày 29/9/2023, Lê Huỳnh Đ sau khi sử dụng rượu bia, điều khiển xe mô tô biển số 59X4-141.51 lưu thông trên đường N, hướng từ cầu V đến ngã ba L. Khi đi đến trước nhà số A đường N, phường T, thành phố T thì không chú ý quan sát, cho xe rẽ trái, đã để đầu xe mô tô do Đ điều khiển va chạm vào phía trước bên trái xe mô tô do anh Lê Văn H1 điều khiển đang lưu thông chuyển hướng qua đường theo hướng từ lề đường trái sang lề đường phải (lưu thông ngược đường), hậu quả làm anh H1 tử vong; vi phạm khoản 8 Điều 8, Điều 15 Văn bản hợp nhất số 15/VBHN-VPQH ngày 05/7/2019 của Văn phòng Quốc hội quy định Luật giao thông đường bộ.

Đối với anh Lê Văn H1 lưu thông ngược đường nhưng đã sang phần đường bên phải theo chiều ngược lại thì xảy ra tai nạn (điểm va chạm đầu tiên giữa 02 xe là ở phần đường trái trên đường N, hướng từ cầu V đến ngã ba L) nên anh H1 không có lỗi.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn giao thông, làm thiệt hại về tính mạng của người khác, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nhưng điều khiển xe không chú ý quan sát trong tình trạng có sử dụng bia, rượu, vi phạm quy định về an toàn khi tham gia giao thông đường bộ, là người có lỗi hoàn toàn gây tai nạn dẫn đến hậu quả làm chết người. Do đó, hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo điều khiển phương tiện tham gia giao thông trong tình trạng sử dụng rượu, bia mà trong máu có nồng độ cồn là 95mg/dl, vượt mức quy định, vi phạm quy định về an toàn giao thông gây hậu quả làm chết người nên thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại, được gia đình bị hại bãi nại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “ Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”, “Đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý, hành vi của bị cáo đã xâm phạm an toàn giao thông công cộng, trật tự công cộng, làm thiệt hại đến tính mạng của người bị hại được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.

Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng. Trong quá trình áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo đã chấp hành tốt các quy định, thể hiện khả năng tự cải tạo được. Bị cáo cũng đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái. Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo: sống với cha từ nhỏ do cha mẹ ly hôn. Cha bị cáo bị nghiện rượu nặng không có khả năng lao động, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Mặt khác, bị cáo cũng bị chấn thương nặng, cụ thể: Chấn thương vùng đầu mặt, vỡ xương hàm trên, gãy xương mũi, vỡ sọ trán, tụ máu ngoài màng cứng và dập não xuất huyết vùng trán hai bên, tụ máu dưới màng cứng dọc liềm đại não, mắt trái thụt nhẹ....có tỉ lệ tổn thương tại thời điểm giám định là 83%. Hiện tại vẫn phải uống thuốc, điều trị thăm khám theo định kỳ. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách nhất định để bị cáo có cơ hội tự cải tạo, đồng thời đảm bảo nguyên tắc khoan hồng trong việc xử lý người phạm tội theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 3 của Bộ luật hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với: 01 xe mô tô biển số 59X4-141.51 do Lê Huỳnh Đ là chủ sở hữu. Ngày 08/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T3 đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe trên cho bị cáo Lê Huỳnh Đ là có căn cứ;
  • Đối với 01 xe mô tô biển số 51X2-82.97 do chị Võ Thị Trúc L – vợ của anh Lê Văn H1 là chủ sở hữu. Ngày 08/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T3 đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe trên cho chị Lê Thị Bảo T2 – đại diện hợp pháp của bị hại là có căn cứ;
  • Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải Thành phố H cấp ngày 18/01/2018 mang tên Lê Huỳnh Đ. Xét trả lại cho bị cáo Đ là phù hợp với các quy định của pháp luật;
  • Đối với 01 USB chứa tập tin ghi nhận hiện trường lúc xảy ra tai nạn. Xét đây là tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Lê Huỳnh Đ đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Lê Văn H1 số tiền 160.000.000 đồng. Chị Lê Thị Bảo T2 là đại diện gia đình bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo Đ, có đơn từ chối định giá tài sản cũng như không có yêu cầu gì đối với bị cáo Đ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Huỳnh Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Huỳnh Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án (ngày 14/8/2024).

Giao bị cáo Đ cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
    • Trả lại cho bị cáo Lê Huỳnh Đ: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải Thành phố H cấp ngày 18/01/2018;
    • Lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa tập tin ghi nhận hiện trường lúc xảy ra tai nạn.
  2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

    (Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).

Nơi nhận:

  • Bị cáo;
  • Người tham gia tố tụng;
  • Công an Tp. Thủ Đức;
  • Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • Viện kiểm sát nhân dân Tp. Thủ Đức;
  • Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Thủ Đức;
  • Thi hành án hình sự;
  • Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 389/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 389/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Huỳnh D bị truy tố về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger