TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 389/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 04 - 12 - 2023
V/v tranh chấp xin ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Yến Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
Ông Duyên Văn Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Tuyết Ngân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 04 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 541/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2023 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 393/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kiều T, sinh năm 1983 (Xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp E, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Châu Tuấn A, sinh năm 1977 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Kiều T trình bày:
- - Về hôn nhân: Vào năm 2002 bà và ông Châu Tuấn A kết hôn, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T. Qua thời gian chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, hiện đã sống ly thân. Nay bà xét thấy vợ chồng tiếp tục sống chung không còn hạnh phúc nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà ly hôn với ông Châu Tuấn A.
- - Về con chung: Có 03 con chung là Châu Bảo T1, sinh ngày 26/12/2003 (Đã trưởng thành); Châu Thúy K, sinh ngày 21/10/2007 và Châu Chí T2, sinh ngày 26/9/2011. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Châu Thúy K và Châu Chí T2, không yêu cầu ông Tuấn A cấp dưỡng.
- - Về tài sản chung: Bà Kiều T xác định vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- - Về nợ chung: Bà Kiều T xác định vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Châu Tuấn A, quá trình giải quyết vụ án đã được Toà án tống đạt Thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ nhiều lần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và xét xử nhưng ông Tuấn A vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Kiều T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Châu Tuấn A hiện đang cư trú tại ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là ông Châu Tuấn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do, bà Nguyễn Kiều T yêu cầu xét xử vắng mặt do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Kiều T và ông Tuấn A.
[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Kiều T và ông Tuấn A được xác lập vào năm 2002 có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên hôn nhân của bà Kiều T và ông Tuấn A là hợp pháp. Bà Kiều T xác định trong cuộc sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp và đã sống ly thân nhau nên bà yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với ông Châu Tuấn A. Trong khi đó, ông Châu Tuấn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và xét xử nhưng vắng mặt và cũng không có văn bản ý kiến phản hồi, điều đó cho thấy ông Tuấn A không có thiện chí để hàn gắn với bà Kiều T. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân của bà Kiều T và ông Tuấn A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Kiều T, cho bà Kiều T ly hôn với ông Châu Tuấn A là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống, bà Nguyễn Kiều T và ông Châu Tuấn A có Có 03 con chung là Châu Bảo T1, sinh ngày 26/12/2003 (Đã trưởng thành); Châu Thúy K, sinh ngày 21/10/2007 và Châu Chí T2, sinh ngày 26/9/2011, khi ly hôn bà Kiều T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là Châu Thúy K và Châu Chí T2. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Đơn trình bày nguyện vọng ngày 24/8/2023 cháu Châu Thúy K và Châu Chí T2 xác định hiện các cháu đang sống với mẹ, nếu cha mẹ ly hôn thì hai cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ. Trong khi đó, ông Tuấn A cũng không có ý kiến phản hồi với yêu cầu về nuôi con của bà Kiều T nên Hội đồng xét xử giao Châu Thúy K, sinh ngày 21/10/2007 và Châu Chí T2, sinh ngày 26/9/2011cho bà Nguyễn Kiều T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi hai cháu thành niên là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Ông Châu Tuấn A không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Do đương sự không yêu cầu về cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Kiều T xác định vợ chồng tự thoả thuận đối với tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Châu Tuấn A thì vắng mặt và không có ý kiến gì về phần tài sản và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Sau này, nếu có phát sinh tranh chấp, đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu về phần tài sản, nợ chung thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Kiều T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các điều 147, 227, 228, 235 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 53, Điều 56, 58, 69, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kiều T, cho bà Nguyễn Kiều T ly hôn với ông Châu Tuấn A.
- Về con chung: Giao Châu Thúy K, sinh ngày 21/10/2007 và Châu Chí T2, sinh ngày 26/9/2011 cho bà Nguyễn Kiều T có nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên.
Ông Châu Tuấn A không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bà Kiều T.
- Về án phí: Bà Nguyễn Kiều T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà Kiều T đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai thu số 0007208 ngày 07/8/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được chuyển thu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Yến Phương |
Bản án số 389/2023/HNGĐ-ST ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 389/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn do mâu thuẫn gia đình và yêu cầu nuôi con chung
