|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 389/2025/DS-PT Ngày: 26/6/2025 V/v tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Vĩnh Hữu.
Các Thẩm phán: Ông trần Văn Đạt.
Ông Võ Ngọc Giàu.
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Thúy - Thư ký.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang: Bà Hà Ngọc Thư Trúc - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 220/2025/TLPT-DS ngày 15 tháng 5 năm 2025 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”;
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 38/2025/DS-ST, ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 910/2025/QĐ-PT ngày 21/5/2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1983;
Địa chỉ: tổ B, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của chị T:
Nguyễn Văn C, sinh năm1965;
Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị T:
Luật sư – Nguyễn Văn T1 – thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T;
Địa chỉ: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
-
Bị đơn: Tạ Kim S, sinh năm 1975;
Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền:
Nguyễn Văn D, sinh năm 1975;
Địa chỉ: số A, T, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Thị Da L, sinh năm 1998;
Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Huỳnh Thanh L1, sinh năm 1981;
Địa chỉ: tổ B, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang
Người đại diện theo ủy quyền của anh L1:
Nguyễn Văn C, sinh năm1965;
Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
*. Người kháng cáo: Bị đơn Tạ Kim S;
Tại phiên tòa: Có mặt ông C, luật sư T1, anh D; Chị Da L có văn bản xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*. Theo án sơ thẩm, nguyên đơn Nguyễn Ngọc T trình bày:
Chị T có cho anh S vay 03 lần tiền, cụ thể: Ngày 10/01/2024, vay 500.000.000 đồng; Ngày 21/02/2024, vay 60.000.000 đồng; Ngày 20/6/2024 vay 590.000.000 đồng. Tổng cộng các lần vay là 1.150.000.000 đồng;
Các lần vay tiền đều có biên nhận do anh S viết, ký tên và có thỏa thuận lãi suất miệng với mức 1%/tháng, không hẹn thời gian trả nhưng khi nào cần lấy lại tiền thì chị T báo trước 03 tháng;
Đến đầu tháng 8/2024, chị T có thông báo lấy lại số tiền 500.000.000 đồng theo biên nhận ngày 10/01/2024 nhưng anh S chưa trả nên chị T mới kiện đòi lại toàn bộ số tiền nợ và chị T đã có thông báo đến anh S để thu hồi 02 khoản nợ còn lại;
Đơn kiện ngày 29/8/2024, chị T đánh máy nhằm là tháng 5/2024. Chị T yêu cầu anh S trả số tiền vốn là 1.150.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 30/7/2024 đến khi xét xử;
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T được biết anh S có chuyển trả cho chị T nhiều lần với số tiền tổng cộng là 15.500.000 đồng và chị đồng ý số tiền này là anh S trả vốn.
Chị T yêu cầu anh S trả số tiền vốn là 1.134.500.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 10%/năm tính từ tháng 8/2024 đến khi xét xử làm tròn là 05 tháng.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn D là đại diện theo ủy quyền của anh Tạ Kim S trình bày:
Vào tháng 4/2022, anh S có vay của chị T 100.000.000 đồng với mức lãi suất 6%/tháng, không hẹn thời gian trả nhưng khi nào cần lấy lại tiền thì chị T báo trước 03 tháng, anh S trả lãi nhưng không trả đủ;
Sau đó, anh S có vay chị T thêm nhiều lần nhưng không nhớ số tiền cụ thể từng lần là bao nhiêu và cũng với mức lãi suất 6%/tháng nhưng tính đến ngày 10/01/2024 thì tổng số tiền là 500.000.000 đồng, bao gồm 370.000.000 đồng vốn và 130.000.000 đồng tiền lãi. Anh S có viết biên nhận, có ký tên vào ngày 10/01/2024;
Từ ngày 10/01/2024 đến ngày 21/02/2024, số tiền lãi 6%/tháng của 500.000.000 đồng là 60.000.000 đồng và anh S có viết biên nhận ngày 21/02/2024;
Đến ngày 20/6/2024, chị T nhập số tiền 500.000.000 đồng và 60.000.000 đồng cùng tiền lãi còn nợ thành số tiền 590.000.000 đồng, anh S có viết biên nhận và có ký tên vào ngày 20/6/2024. Số tiền này cũng không hẹn thời gian trả nhưng khi nào cần lấy lại tiền thì chị T báo trước 03 tháng;
Vào khoảng tháng 8/2024, vợ chồng anh S có mời vợ chồng chị T qua nhà để thương lượng trả nợ nhưng không thành và chị T kiện anh S.
Anh S đã trả lãi cho chị T và anh L1 nhận bằng cách chuyển khoản và trả tiền mặt. Việc trả tiền mặt thì không có chứng cứ nhưng chuyển khoản thì từ năm 2022 đến năm 2023 chuyển cho anh L1 nhận 89.000.000 đồng, chuyển cho chị T nhận 15.500.000 đồng trong năm 2024.
Anh S chỉ đồng ý trả cho chị T số tiền 500.000.000 đồng.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Da L trình bày: Chị là vợ của anh S và thống nhất ý kiến với anh D là người đại diện theo ủy quyền của anh S.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 38/2025/DS-ST, ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các điều 357, 463, 466, khoản 2 Điều 468 và khoản 2 Điều 469 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc T.
Buộc anh Tạ Kim S phải trả cho chị Nguyễn Ngọc T số tiền 1.181.770.000 đồng (một tỷ, một trăm tám mươi mốt triệu, bảy trăm bảy mươi nghìn đồng). Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Tạ Kim S phải chịu 47.453.100 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho chị Nguyễn Ngọc T 21.681.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0015977 ngày 15/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Ngoài ra bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự;
Ngày 06/3/2025, bị đơn anh Tạ Kim S kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, anh S đồng ý trả số tiền nợ vay là 500.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện theo ủy quyền của anh Tạ Kim S đưa ra nhiều luận cứ như lời trình bày của anh S tại phần nội dung vụ án. Anh S chỉ đồng ý trả số tiền 500.000.000 đồng, đề nghị sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm;
Đại diện theo ủy quyền của chị T đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Tạ Kim S, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị T đưa nhiều luận cứ như nhận định của bản án dân sự sơ thẩm và cho rằng kháng cáo của anh S là không có cơ sở xem xét, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh S, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người kháng cáo. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm tính phần lãi suất là có sai sót nên đề nghị sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm về phần lãi suất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên và những quy định pháp luật, Tòa án nhận định:
[1]. Xét quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thời hạn kháng cáo, sự có mặt, vắng mặt của đương sự, thay đổi, bổ sung yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào đơn kháng cáo của những người kháng cáo và biên lai nộp tạm ứng án phí phúc thẩm thì những người kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Xét trong quá trình thụ lý vụ án và chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân Sự, có mặt các đương sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của người kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Xét việc giao kết hợp đồng vay tài sản giữa chị Nguyễn Ngọc T và anh Tạ Kim S, giao nhận tiền, trả vốn gốc, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ Biên nhận tiền do chị T cung cấp: Ngày 10/01/2024, vay 500.000.000 đồng; Ngày 21/02/2024, vay 60.000.000 đồng; Ngày 20/6/2024 vay 590.000.000 đồng thì:
Chị Nguyễn Ngọc T có cho anh Tạ Kim S vay 03 lần tiền với tổng số tiền 1.150.000.000 đồng. Anh S thừa nhận các chữ ký trong 03 biên nhận trên là của anh S;
Do đó có căn cứ xác định anh S có vay của chị T số tiền 1.150.000.000 đồng.
Xét thời hạn trả tiền, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các đương sự đều thống nhất là khi nào chị T cần lấy vốn gốc thì thông báo cho anh S trước ba tháng nên được xác định đây là hợp đồng vay không có thời hạn trả, có thỏa thuận miệng về lãi suất.
Xét việc trả vốn gốc của anh S, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào lời trình bày của anh S: Vào tháng 4/2022, anh S có vay của chị T 100.000.000 đồng với mức lãi suất 6%/tháng, không hẹn thời gian trả nhưng khi nào cần lấy lại tiền thì chị T báo trước 03 tháng, anh S trả lãi nhưng không trả đủ;
Sau đó, chị T có cho anh S vay nhiều lần nhưng không nhớ số tiền cụ thể từng lần là bao nhiêu và cũng với mức lãi suất 6%/tháng nhưng tính đến ngày 10/01/2024 thì tổng số tiền là 500.000.000 đồng, bao gồm 370.000.000 đồng vốn và 130.000.000 đồng tiền lãi. Anh S có viết biên nhận, có ký tên vào ngày 10/01/2024;
Từ ngày 10/01/2024 đến ngày 21/02/2024, số tiền lãi 6%/tháng của 500.000.000 đồng là 60.000.000 đồng và anh S có viết biên nhận ngày 21/02/2024 với số tiền 60.000.000 đồng nhưng anh S cũng không có căn cứ chứng minh 60.000.000 đồng là số tiền lãi của số tiền 500.000.000 đồng;
Đến ngày 20/6/2024, chị T nhập số tiền 500.000.000 đồng và 60.000.000 đồng cùng tiền lãi còn nợ thành số tiền 590.000.000 đồng, anh S có viết biên nhận và có ký tên vào ngày 20/6/2024. Số tiền này cũng không hẹn thời gian trả nhưng khi nào cần lấy lại tiền thì chị T báo trước 03 tháng.
Lời trình bày trên của anh S, anh S không chứng minh được số tiền 500.000.000 đồng ngày 10/01/2024 bao gồm tiền: Vốn là 370.000.000 đồng, tiền lãi là 130.000.000 đồng; Biên nhận ngày 21/02/2024, vay 60.000.000 đồng là số tiền lãi của số tiền vay ngày 10/01/2024; Biên nhận ngày 20/6/2024, vay 590.000.000 đồng bao gồm số tiền của biên nhận ngày 10/01/2024 và biên nhận ngày 21/02/2024 cộng lại.
Từ năm 2022 đến năm 2023, anh S chuyển khoản cho anh L1 89.000.000 đồng và chuyển khoản cho chị T 15.500.000 đồng trong năm 2024;
Chị T thừa nhận anh S có chuyển trả cho chị T nhiều lần với số tiền tổng cộng là 15.500.000 đồng và chị T đồng ý trừ vào số tiền vốn gốc;
Còn số tiền 89.000.000 đồng như anh S trình bày thì không có căn cứ chứng minh và không được chị T, anh L1 thừa nhận;
Do đó chị T khởi kiện yêu cầu anh S trả số tiền vốn của ba biên nhận trên 1.134.500.000 đồng và Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị T là có căn cứ;
Vì thế anh S kháng cáo yêu cầu được trả số tiền vốn gốc 500.000.000 đồng là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh S về phần này.
[2.2]. Xét lãi suất cho vay giữa chị Nguyễn Ngọc T và anh Tạ Kim S, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Như đã nhận định hợp đồng vay tài sản giữa chị T và anh S là hợp đồng vay không có thời hạn trả tiền, có thỏa thuận miệng về lãi suất;
Căn cứ vào lời trình bày và thừa nhận của đương sự: Chị T cho rằng việc vay tiền có lãi suất với mức 01%/tháng và anh S cho rằng lãi suất vay là 06%/tháng nên có tranh chấp về lãi suất cho vay. Chị T yêu cầu tính lãi suất 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự là phù hợp nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu này của chị T là có căn cứ.
Do đó kháng cáo của bị đơn Tạ Kim S về phần này không được chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ngoài những chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, người kháng cáo bị đơn Tạ Kim S không cung cấp được chứng cứ nào khác;
Vì thế Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Tạ Kim S cho nên cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Tạ Kim S phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
[4]. Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng các điều 463, 466, 357, 468 Bộ luật Dân sự;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ Luật thi hành án Dân sự.
Xử: 1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Tạ Kim S;
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 38/2025/DS-ST, ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc T:
Buộc anh Tạ Kim S phải trả cho chị Nguyễn Ngọc T số tiền 1.181.770.000 đồng (một tỷ, một trăm tám mươi mốt triệu, bảy trăm bảy mươi nghìn đồng) (trong đó: Vốn gốc 1.134.500.000 đồng, tiền lãi 47.270.000 đồng);
Kể từ ngày chị Nguyễn Ngọc T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Tạ Kim S chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Tạ Kim S phải chịu 47.453.100 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho chị Nguyễn Ngọc T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chị T đã nộp 21.681.000đồng biên lai thu số 0015977 ngày 15/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Tạ Kim S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà anh S đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0016630 ngày 06/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
*. Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Vĩnh Hữu |
Bản án số 389/2025/DS-PT ngày 26/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 389/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vay đến hạn không trả
