Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 389/2024/HS-ST

Ngày: 09/12/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Phùng

Ông Nguyễn Phan Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phương Ly - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Chu Ngọc Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 347/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 403/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 76/2024/HSST-QĐ ngày 02/12/2024 của Toà án nhân dân quận Đống Đa đối với bị cáo:

NGUYỄN KHẮC T, sinh năm 1988; Giới tính: Nam; HKTT và chỗ ở: Số D T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá : 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Khắc C và bà Hoàng Thị S; Vợ: Trương Thanh H (đã ly hôn); Có 02 con: con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015; D chỉ bản số 807 Do Công an quận Đ, thành phố Hà Nội lập ngày 14/9/2024; Nhân thân: 01 Tiền án; 01 Tiền sự; Tháng 11/2010, Tòa án nhân dân quận Hà Đông xử phạt 01 năm nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 20/2011/HSST ngày 04/11/2010. (Đã xóa án tích); Ngày 01/6/2007, Công an quận H xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; (có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị Minh B, sinh năm 1979. Trú tại: Số C, ngõ D Â, phường N, quận T, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Quang T1, sinh năm 1999. Trú tại: Số B ngõ A G, phường T, quận L, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  3. Anh Trần Long V, sinh năm 2000. Trú tại: Số I Đ, phường L, quận L, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  4. Anh Nguyễn Thanh B1, sinh năm 1988. Trú tại: Tổ dân phố G, đường Đ, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  5. Anh Nguyễn Hoàng Tuấn L, sinh năm 1993. Trú tại: Số I ngõ B T, phường H, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  6. Anh Nguyễn Hữu P, sinh năm 1999; HKTT: Tổ dân phố H, phường Q, Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Số C, Lưu Đình C1, khu phố H, phường Q, Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt).
  7. Anh Hoàng Tuấn L1, sinh năm 1994; HKTT và trú tại: P, K, Tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  8. Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1994; Địa chỉ: Số A ngõ B Đê L, Phương L2, Đ, Hà Nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Căn cứ các Điều 41, 236, 239 và 243 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 274/QĐ-CQĐT(CSHS) ngày 25/05/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Quyết định khởi tố bị can số 577/QĐ-ĐCSHS ngày 14/08/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đối với Nguyễn Khắc T về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ bản Kết luận điều tra vụ án hình sự, đề nghị truy tố số 428 ngày 25/09/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ.

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:

Ngày 15/05/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ tiến hành kiểm tra hành chính phòng 601 chung cư H địa chỉ số A T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội phát hiện một số đối tượng có biểu hiện hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Qua điều tra, xác định các đối tượng chia làm ba nhóm để hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, cụ thể như sau:

Nhóm thứ nhất, do đối tượng Hoàng Tuấn L1 (Sinh năm: 1994; Trú tại: P, nhà K khu tập thể T, T, B, Hà Nội) quản lý gồm có Nguyễn Khắc T (Sinh năm: 1988; trú tại: Số D T, T, H, Hà Nội), Nguyễn Hữu P (Sinh năm: 1999; trú tại: Số C L, Hồ N, Q, S, Thanh Hóa), Lê Tuấn A (Sinh năm: 2002; trú tại: Số A ngách A N, B, Hà Nội) cùng nhau tìm kiếm khách trên mạng xã hội. Khi tìm được khách vay L1 sẽ giao cho các đối tượng còn lại đi kiểm tra thông tin khách vay và số tiền vay sau đó sẽ giao tiền trực tiếp cho các đối tượng này để mang giao cho khách vay. Nhóm này chia thành hai nhóm nhỏ gồm: Nhóm Hoàng Tuấn L1, Nguyễn Hữu P và nhóm Nguyễn Khắc T, Lê Tuấn A để quản lý khách vay tiền. Cụ thể số khách đã làm rõ được như sau:

* Đối với những khoản vay do Hoàng Tuấn L1 và Lê Tuấn A quản lý thì Tuấn A là người trực tiếp đi tìm khách và làm việc với khách, L1 đưa tiền cho Tuấn A để cho khách vay, Tuấn A thu tiền lãi đưa về cho L1 còn về tiền phí thì Tuấn A chủ động làm việc với khách và L1 cho Tuấn A luôn số tiền này coi như tiền xăng xe đi lại. Cụ thể với những khách sau:

- Đối với khách vay Nguyễn Xuân L3 (Sinh năm: 1986; Trú tại: Số F P, Đ, Hà Nội): Ngày 30/01/2024, Tuấn A có cho anh Nguyễn Xuân L3 vay 02 khoản vay với cùng số tiền 15.000.000 đồng (Một khoản vay hình thức “bát họ” và một khoản vay lãi), cụ thể:

  • + Đối với “bát họ” trong vòng 50 ngày thì cho anh L3 nhận về số tiền 8.450.000 đồng (Trừ 1.800.000 tiền phí môi giới, 300.000 đồng tiền phí khoản vay, tiếp tục trừ 3.000.000 đồng tiền khách phải đóng trong 10 ngày do gần Tết nguyên đán và 1.450.000 đồng tiền lãi); (Lãi suất: 70,6%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 3.139.041 đồng). Gấp 3,53 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).
  • + Đối với khoản vay lãi thì lãi suất là 2500 đồng/1 triệu/ngày, anh L3 thực nhận số tiền 11.750.000 đồng do có trừ các khoản gồm 1.800.000 đồng tiền phí môi giới, 325.000 đồng tiền phí khoản vay và 1.125.000 đồng số tiền lãi trong vòng 30 ngày. Đối với 2 khoản phí môi giới là 3.600.000 đồng thì không được hưởng lợi mà là người được biết là L3 ở trên mạng xã hôi (tới nay không có thông tin gì về người này). (Lãi suất 91,3%/ năm; tiền thu lời bất chính: 5.228.767 đồng). Gấp 4,56 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

- Đối với khách vay Nguyễn Chiến T3 (Sinh năm:1990; Trú tại: Số C ngõ V, H, Đ, Hà Nội). Tháng 12 năm 2023 Tuấn A có cho anh Nguyễn Chiến T3 vay “bát họ” 5 triệu (trừ 600.000 đồng phí môi giới, 100.000 đồng phí khoản vay, 500.000 đồng tiền lãi) nên số tiền thực nhận anh T3 cầm về là 3.800.000 đồng (Khoản này anh T3 đã trả hết), sau đó có tiếp tục vay 3 khoản đều như trên trong các khoảng thời gian: Tháng 01 năm 2024; tháng 3 năm 2024 và tháng 5 năm 2024 (Đối với khoản vay tháng 5 năm 2024 thì anh T3 chưa trả tiền gốc). Tất cả các “bát” trên đều làm 50 ngày. (Lãi suất: 73%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 1.063.014 đồng; Đối với 3 khoản vay sau thì lãi suất đều là 73%/năm và tiền thu lời bất chính của mỗi khoản vay đều là 463.014 đồng). Gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

- Đối với khách vay Nguyễn Gia P1 (Sinh năm: 1993: Trú tại: Số F ngõ A T, C, B, Hà Nội). Ngày 14/05/2024 Tuấn A có cho anh Nguyễn Gia P1 vay 10 triệu đồng với hình thức “bát họ” trong vòng 63 ngày (anh P1 lấy “bát” đủ), trừ 925.000 đồng (tiền đóng trong 5 ngày kể từ ngày 14/5/2024), trừ 675.000 đồng là chi phí Tuấn A thu. Nên số tiền thực nhận là 8.400.000 đồng. ((Lãi suất: 98,5%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 782.523 đồng). Gấp 4,9 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

- Đối với khách vay Đỗ Hoài N (Sinh năm:1987; Trú tại: Số B T, P, H, Hà Nội). Ngày 14/05/2024 Tuấn A có cho anh Đỗ Hoài N vay “bát họ” 10.000.000 đồng (lấy đủ) trong vòng 63 ngày, Tuấn A trừ 1.155.000 đồng (tiền đóng trước 6 ngày. Ngày đầu là 230.000 đồng và 5 ngày sau mỗi ngày 185.000 đồng) nên số tiền anh N thực nhận là 8.845.000 đồng. (Lãi suất: 98,5%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 129.028 đồng). Gấp 4,925 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

- Đối với khách vay Nguyễn Duy P2 (Sinh năm: 1981; Trú tại: Số E ngõ D L, H, Hà Nội). Ngày 14/05/2024 Tuấn A có cho anh Nguyễn Duy P2 vay số tiền 20.000.000 đồng dưới hình thức “bát họ” 63 ngày; anh P2 lấy “bát đủ”. Cụ thể Tuấn A trừ 590.000 đồng tiền phí, 1.110.000 đồng (tiền đóng trong 3 ngày). Số tiền anh P2 thực nhận là 18.300.000 đồng. (Lãi suất: 98,5%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 719.028 đồng). Gấp 4,925 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

- Đối với khách vay Nguyễn Hữu T4 (Sinh năm: 1993; Trú tại: C, B, Hà Nội). Ngày 13/05/2024, Tuấn A có cho anh Nguyễn Hữu T4 vay số tiền 10.000.000 đồng trong 63 ngày dưới hình thức “bát họ”, anh T4 lấy “bát đủ”. Cụ thể Tuấn A trừ 1.155.000 đồng (tiền đóng trước 6 ngày, mỗi ngày 185.000 đồng, buổi đóng đầu tiên sẽ phải là 230.000 đồng để tròn tiền), trừ 45.000 đồng tiền phí. Số tiền thực nhận của anh T4 là 8.800.000 đồng. (Lãi suất: 98,5%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 174.028 đồng). Gấp 4,925 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

Như vậy, các khoản vay trên không có khoản vay nào có lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (20%/năm).

* Đối với các khách mà Nguyễn Khắc T cùng Nguyễn Hữu P cho khách vay và có báo về cho Hoàng Tuấn L1 để cùng hưởng lợi cụ thể như sau:

- Đối với Trần Thị Minh B (Sinh năm: 1979; Trú tại: Số C ngõ D Â, N, T, Hà Nội) có vay dưới hình thức “bốc họ” số tiền 30.000.000 đồng trong vòng 30 ngày, tiền lãi thu là 2.400.000 đồng và 1.600.000 đồng tiền phí. Đưa cho chị B tiền mặt là 26.000.000 đồng. Tới ngày 11/05/2024 thì P yêu cầu B trả tiền nhưng B nói hiện chưa có nên đã yêu cầu chị B phải đóng thêm số tiền 1.575.000 đồng là số tiền lãi trong vòng 15 ngày tiếp theo. (Lãi suất: 107,5%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 4.835.274 đồng). Gấp 5,375 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

- Đối với khách Nguyễn Quỳnh L4 (Sinh năm: 1990, Trú tại: P – CT12A – Khu đô thị K, K, H, Hà Nội) vay dưới hình thức bốc bát họ 10 ăn 9 đóng trong 50 ngày. Từ ngày 07/03/2024 cho chị L4 vay số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), trong đó bị cắt lại 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tiền lãi, đóng trước 05 ngày số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Chị L4 được cầm về 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng). Khách này không lấy phí ngoài. Tiền lãi hàng tháng sẽ chuyển vào tài khoản số: 35672317 – Chủ tài khoản: TRAN NGOC LAM – Ngân hàng TMCP Á (A1). (Lãi suất: 73%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 1.452.055 đồng). Gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

  • + Ngày 11/04/2024 chị Liên tiếp T5 muốn vay bằng hình thức bốc bát họ 10 ăn 83 đóng trong 63 ngày số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Tiền lãi đóng trước là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) trừ 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) nợ cũ chưa thanh toán hết. Đóng trước 03 ngày số tiền 960.000 đồng (Chín trăm sáu mươi nghìn đồng), chị L4 cầm về 11.040.000 đồng (Mười một triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng). Tiền lãi hàng tháng chuyển vào tài khoản số: 35672317 – Chủ tài khoản: TRAN NGOC LAM – Ngân hàng TMCP Á (A1). (Lãi suất: 57,9%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 1.309.589 đồng). Gấp 2,895 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

- Đối với khách vay Nguyễn Quang T1 (sinh năm 1999; trú tại: Số B 129/5/14 G, T, L, Hà Nội). Ngày 14/05/2024 cho vay dưới hình thức bốc bát họ, số tiền 50.000.000 đồng tỉ lệ 10 ăn 9 đóng trong vòng 63 ngày. Nhóm yêu cầu T1 ghi khoản vay là 58.500.000 đồng (Năm mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng). T1 nhận số tiền là 40.150.000 đồng. Lý do trừ 5 ngày đầu cụ thể ngày đầu là 1.150.000 đồng (Một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng), 4 ngày sau mỗi ngày phải đóng là 925.000 đồng (Chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng). 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) là tiền cắt lãi. (Lãi suất: 156,4%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 11.773.973 đồng). Gấp 7,82 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

- Đối với khách vay Trần Long V (Sinh năm: 2000; Trú tại: Số I Đ, L, L, Hà Nội) ngày 09/05/2024 V liên hệ vay 35.000.000 đồng hình thức “bát họ”, đóng trong vòng 63 ngày, cụ thể là mỗi ngày V sẽ phải đóng số tiền 555.000 đồng/ngày, đối với ngày đầu tiên là V sẽ phải đóng 690.000 đồng. Số tiền thực tế khi V thực nhận đối với “bát” 35.000.000 đồng này là 24.590.000 đồng (Hai mươi tư triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng); trừ số tiền 10.410.000 đồng cụ thể là 7.000.000 đồng tiền lãi, 500 nghìn đồng tiền phí dịch vụ, 2.910.000 là tiền V phải đóng trong 5 ngày đầu tiên (ngày đầu tiên là 690.000 đồng, 4 ngày còn lại mỗi ngày phải đóng là 555.000 đồng). Đến ngày 15/05/2024 Vũ đóng 555.000 đồng vào số tài khoản 35672317 mở tại ngân hàng A1 mang tên Tran Ngọc L5. Tới nay V chưa thanh toán hết số tiền vay này. (Lãi suất: 115,9%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 6.291.781 đồng). Gấp 5,795 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

Đối với các khoản vay trên có 3 khoản vay (Trần Thị Minh B, Nguyễn Quang T1, Trần Long V) có lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (20%/năm). Số tiền thu lời bất chính là 22.901.028 đồng.

* Ngoài ra, Nguyễn Khắc T còn tự bỏ tiền cá nhân ra để hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và hưởng lợi một mình, cụ thể như sau:

  • +) Đối với khách vay Nguyễn Thanh B1 (sinh năm: 1988; Nơi cư trú: TDP 7 Đ, M, N, Hà Nội). Ngày 21/2/2023, anh B1 gặp T tại quán café trên phố Nguyễn Ngọc D1 và có viết giấy vay số tiền 20 triệu đồng, lãi xuất 3.400.000 đồng trong thời gian 30 ngày. T đưa B1 số tiền thực nhận là 16.400.000 đồng, số tiền 3.600.000 đồng trong đó cụ thể là 3.400.000 đồng tiền lãi trong vòng 30 ngày và 200.000 đồng tiền phí dịch vụ. Đến ngày 15/05/2024, B1 chưa thanh toán hết số tiền này. Số tiền thực tế anh B1 đã trả cho T là 13.600.000 đồng. (Lãi suất: 206,8%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 46.268.493 đồng). Gấp 10,34 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).
  • +) Đối với khách vay Trần Long V (Sinh năm: 2000; Trú tại: Số I Đ, L, L, Hà Nội) Ngày 13/01/2024, vay của T số tiền 30.000.000 đồng lãi xuất cứ 10 ngày thì V sẽ phải đóng 1.800.000 đồng. Trần Long V nhận được 22 triệu đồng. T trừ luôn 8.000.000 đồng cụ thể như sau: Trừ luôn 40 ngày tiền lãi phải đóng là 7.200.000 đồng (Do rơi vào thời điểm sát Tết) và 800.000 đồng tiền phí làm hợp đồng. Đóng lãi tới ngày 05/05/2024 thì V đã thanh toán hết số tiền gốc 30.000.000 đồng vay của T. (Lãi suất: 219%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 19.446.027 đồng). Gấp 10,95 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).
  • +) Đối với khách vay Nguyễn Hoàng Tuấn L (Sinh năm: 1993; Trú tại: Số I ngõ B T, H, Đ, Hà Nội) Vào ngày 23/01/2024, trực tiếp T là người cho vay số tiền 20.000.000 đồng lãi xuất 5000/1triệu/ngày, nhưng sau đó hai bên thỏa thuận lại là tiền lãi mức 4.750 đồng/1 triệu/1 ngày. T đồng ý và giao cho L 17.000.000 đồng tiền mặt, còn 3.000.000 đồng thì T đã cắt lại bao gồm 2.850.000 đồng tiền lãi và 150.000 đồng tiền phí giới thiệu. Thỏa thuận sẽ đóng tiền lãi 10 ngày 1 lần, số tiền lãi phải đóng là 950.000 đồng (trên số tiền vay là 20.000.000 đồng). T cung cấp tài khoản nhận tiền là: ngân hàng A1 số: 35672317 mang tên TRAN NGOC LAM để L đóng lãi theo kỳ. (Lãi suất: 173,4%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 9.730.685 đồng). Gấp 8,67 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).
  • +) Đối với khách vay Nguyễn Đình B2 (Sinh năm: 1980, Trú tại: tổ A Y, H), vay 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Tổng số lãi T đã thu của anh B2 là 8.800.000 đồng kể từ ngày 28/04/2023. Với lãi suất khoản vay 2500đ/triệu/ngày. Đối tượng cắt lại 750.000 đồng lãi tháng đầu và đưa cho B2 9.250.000 đồng tiền mặt. Tiền lãi hàng tháng sẽ chuyển vào tài khoản số: 35672317 – Chủ tài khoản: TRAN NGOC LAM – Ngân hàng TMCP Á (A1). (Lãi suất 83,6%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 6.695.890 đồng). Gấp 4,18 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).
  • +) Đối với Vũ Duy H1 (SN:1982; Trú tại: Nhà A, ngõ E B, hoàn K, Hà Nội) có vay của T số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) với hình thức bốc bát họ 10 ăn 9 đóng 50 ngày phải trả đủ gốc. Khách sẽ phải đóng lãi 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng)/ngày, thu trước 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tiền (trong 2.000.000₫ có 1.000.000₫ H1 đóng trước 05 ngày). Khách cầm về 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Tiền lãi hàng tháng sẽ chuyển vào tài khoản số: 35672317 – Chủ tài khoản: TRAN NGOC LAM – Ngân hàng TMCP Á (A1). (Lãi suất: 73%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 726.027 đồng). Gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

Đối với các khoản vay trên có 3 khoản vay (Nguyễn Hoàng Tuấn L, Nguyễn Thanh B1, Trần Long V) có lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (20%/năm). Số tiền thu lời bất chính là 75.445.205 đồng.

Nhóm thứ hai: gồm các đối tượng Nguyễn Thành Đ (Sinh năm: 1994; trú tại: Số A ngõ B Đê L, Phương L2, Đ, Hà Nội), Lê Trung H2 (Sinh năm: 2003; trú tại: Số E ngõ F B, H, Hà Nội), Đỗ Huy H3 (Sinh năm: 2003; trú tại: Số C, ngõ D đường L, Thành Công, B, Hà Nội do Nguyễn Thành Đ làm nhóm trưởng giao nhiệm vụ và tiền cho H2 và H3 đi tìm khách vay, ký giấy vay, giao tiền bằng hình thức trực tiếp và thu tiền hàng ngày bằng vào tài khoản ngân hàng T10 số 1903880937018 mang tên Ngô Thị Hương T6 (do Đ mua trên mạng) hoặc thu trực tiếp từ khách, cụ thể số khách của nhóm này như sau:

- Nguyễn Thành Đ giao cho Đỗ Huy H3 và Phan Minh H4 cho khách Hà Trọng Đ1 (Sinh năm: 1995; Trú tại: 1 Đê L, T, Đ, Hà Nội) vay 06 khoản cụ thể như sau:

  • + Khoản vay thứ 1: Ngày 07/01/2024, anh Đ1 vay 10.000.000 đồng nhận về số tiền 7.800.000 đồng, trong đó trừ tiền lãi 1.000.000 đồng, 1.200.000 đồng tiền phí; mỗi ngày đóng 200.000 đồng trong vòng 50 ngày. Khoản vay này anh Đ1 đóng được 30 ngày tống số tiền 6.000.000 đồng còn 20 ngày là tổng số tiền 4.000.000 đồng. (Lãi suất: 73%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 1.926.027 đồng. Gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).
  • + Khoản vay thứ 2: Ngày 05/2/2024, vay 10.000.000 đồng, trong đó trừ tiền lãi 1.000.000 đồng, 1.200.000 đồng tiền phí; đóng trước 09 ngày tết là 1.800.000 đồng; trả 20 ngày cuối của bát trước số tiền là 4.000.000 đồng. Mỗi ngày anh Đ1 phải đóng 200.000 đồng trong vòng 41 ngày. Khoản vay này đã đóng được 32 ngày được số tiền 6.400.000 đồng còn lại 18 ngày là 3.600.000 đồng. (Lãi suất: 73%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 1.926.027 đồng). Gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).
  • + Khoản vay thứ 3: Ngày 08/3/2024, vay 10.000.000 đồng, trong đó trừ tiền lãi 1.000.000 đồng, 1.200.000 đồng tiền phí; trả 18 ngày của bát trước là 3.600.000 đồng, mỗi ngày đóng 200.000 đồng trong vòng 50 ngày. Khoản vay nay đóng được 26 ngày với số tiền 5.200.000 đồng. Còn 24 ngày chưa đóng là 4.600.000 đồng. (Lãi suất: 73%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 1.926.027 đồng). Gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).
  • + Khoản vay thứ 4: Ngày 03/4/2024 vay 10.000.000 đồng, trong đó trừ tiền lãi 1.000.000 đồng, 1.200.000 đồng tiền phí; trả 24 ngày của bát trước là 4.800.000 đồng, mỗi ngày đóng 200.000 đồng trong vòng 50 ngày. Khoản vay này đóng được 26 ngày với số tiền 5.200.000 đồng còn lại 24 ngày là 4.800.000 đồng. (Lãi suất: 73%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 1.926.027 đồng). Gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).
  • + Khoản vay thứ 5: Thay đổi cách thức vay là đóng họ 63 ngày (10 ăn 8,3 tức là vay 10.000.000 đồng thực nhận 8.300.000 đồng), mỗi ngày 160.000 đồng. Ngày 29/4/2024, vay 10.000.000 đồng, trong đó trừ tiền lãi 1.700.000 đồng, 1.200.000 đồng tiền phí; trả 24 ngày của bát trước là 4.800.000 đồng, mỗi ngày đóng 160.000 đồng trong vòng 63 ngày. T7 cầm về của anh Đ1 đối với bát này là 2.300.000 đồng. Khoản vay này anh Đ1 đóng được 14 ngày. Còn 49 ngày là 7.840.000 đồng. (Lãi suất: 98,5%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 2.554.795 đồng). Gấp 4,925 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).
  • + Khoản vay thứ 6: Ngày 13/5/2024, anh Đ1 vay 20.000.000 đồng hình thức bát họ (10 ăn 8,3) nhưng anh Đ1 cầm đủ số tiền 20.000.000 đồng nên trong vòng 63 ngày anh Đ1 phải đóng đủ thành 23.400.000 đồng, đóng mỗi ngày 370.000 đồng, 1.200.000 đồng tiền phí. Cụ thể số tiền cầm về là 20.000.000 – 7.840.000đ (tiền 49 ngày của bát trước) – 1.200.000đ tiền phí – 460.000 đồng (tiền đóng ngày đầu tiên) = 10.500.000 đồng (đây là số tiền thực nhận về của anh Đ1). Các buổi còn lại anh Đ1 chỉ phải đóng 370.000 đồng trong vòng 62 ngày. Khoản vay này anh Đ1 đã đóng được 1 buổi 460.000 đồng và 2 buổi 370.000 đồng thì cơ quan Công an mời lên làm việc. (Lãi suất: 98,5%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 1.329.028 đồng). Gấp 4,925 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

- Đối với khách Vũ Văn D2 (Sinh năm: 1990; Trú tại: Nội L, N, T, Thái Bình), ngày 23/04/2024 vay 30.000.000 đồng, khách nhận 25.000.000 đồng, đã trừ lãi 2.400.000 đồng + phí 2.600.000 đồng, yêu cầu khách trả đủ gốc trong vòng 1 tháng. Đến nay khách vẫn chưa trả tiền gốc. (Lãi suất: 97,3%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 4.506.849 đồng). Gấp 4,865 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

- Đối với khách Đỗ Hoài N (Sinh năm:1987; HKTT: Tân Xa, P, H, Hà Nội) vay ngày 11/05/2024: Vay bát 20 triệu đồng, ghi giấy vay 23.400.000 đồng, đóng 460.000 đồng ngày đầu, đóng 370.000 đồng/ngày trong 62 ngày còn lại. Khách đã đóng 04 ngày đến ngày 14/5 là 1.570.000 đồng thì dừng đóng. (Lãi suất: 98,5%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 172.037 đồng). Gấp 4,925 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

- Đối với khách Nguyễn Hữu T4 (Sinh năm:1993; Trú tại: Tổ I C, B, Hà Nội) vay bát họ 20 triệu đồng, ghi giấy vay 23.400.000 đồng (Do đây là họ đủ).Ngày đầu đóng 460.000 đồng ngày đầu, đóng 370.000 đồng/ ngày trong 62 ngày còn lại. Khách đã đóng 22 ngày đến ngày 14/5 là 8.230.000 đồng thì dừng đóng. (Lãi suất: 98,5%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 946.206 đồng). Gấp 4,925 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

- Đối với khách Tạ Thị Y (Sinh năm:1995; Trú tại: 2BC2 ngõ A N, Q, H, Hà Nội) vay bát họ 10 triệu đồng, ghi giấy vay 10 triệu đồng, khách nhận 5.500.000 đồng, đã trừ lãi 1.700.000 đồng và 2.000.000 đồng tiền phí + đóng 5 ngày đầu X 160.000 đồng, đóng 160.000 đồng/ngày trong 58 ngày còn lại. Ngày 15/5/2024 thì dừng đóng lãi do Cơ quan Công an mời lên làm việc. (Lãi suất: 98%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 3.355.000 đồng). Gấp 4,9 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

Như vậy, các khoản vay trên không có khoản vay nào có lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (20%/năm).

Nhóm thứ ba gồm các đối tượng Nguyễn Anh C2 (Sinh năm: 1992; trú tại: Số A ngách A Hồ N, Q, H, Hà Nội), Nguyễn Minh D3 (Sinh năm: 2004; trú tại: Số B Đường T, Tổ H, M, H, Hà Nội), Phan Minh H4 (Sinh năm: 2003; trú tại: Số A ngách B ngõ B Cầu G, D, Cầu G, Hà Nội) và Đặng Tiến H5 (Sinh năm: 2004; trú tại: Số A đường T, M, H, Hà Nội) do C2 làm nhóm trưởng. Cụ thể số khách của nhóm này như sau:

- Đối với khách vay Trần Minh Đ2 (SN: 2000, trú tại: số E V, H, Hà Nội)

  • + Khoản vay thứ 1: Ngày 20/11/2023 C2 đưa cho H4 số tiền 15.000.000 đồng mang đi cho anh Đ2 vay dưới hình thức bốc bát họ. Đóng trong vòng 50 ngày mỗi ngày đóng 300.000 đồng. Đối với số tiền trên thu phí là 3.300.000 đồng và yêu cầu Đ2 đóng trước 05 ngày là 1.500.000 đồng và thu tiền lãi trước là 1.500.000 đồng. Tổng anh Đ2 được cầm về 8.700.000 đồng (Lãi suất: 73%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 4.389.041 đồng). Gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).
  • + Khoản vay thứ 2: Ngày 20/12/2023 anh Đ2 tiếp tục vay đáo bát họ ngày 20/11/2023. Nhóm cho anh Đ2 vay 20.000.000 đồng trừ 2.000.000 đồng tiền lãi và trừ 6.000.000 đồng tiền đóng trước 15 ngày (do thời gian sát tết nên nhóm thu nghỉ tết). Trừ tiếp số tiền còn nợ của bát họ ngày 20/11/2023 là 6.000.000 đồng. Sau khi trừ các khoản anh Đ2 nhận lại số tiền 6.000.000 đồng. Đóng trong vòng 50 ngày mỗi ngày đóng 400.000 đồng (Lãi suất: 73%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 1.452.055 đồng). Gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).
  • + Khoản vay thứ 3: Ngày 19/1/2024 anh Đ2 tiếp tục vay để đáo với khoản vay 20.000.000 đồng, đóng trong vòng 50 ngày mỗi ngày đóng 400.000 đồng. Khoản vay này trừ 7.600.000 đồng ở bát cũ chưa đóng, thu lãi 2.000.000 đồng và đóng trước 16 ngày là 6.400.000 đồng do thấy Đ2 sắp không còn khả năng chi trả nên thu nhiêu ngày. Sau đó Đ2 nhận lại 4.000.000 đồng (Lãi suất: 73%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 1.452.055 đồng). Gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).
  • + Khoản vay thứ 4: Ngày 29/2/2024 anh Đ2 tiếp tục vay đáo 25.000.000 đồng đóng trong vòng 50 ngày mỗi ngày đóng 500.000 đồng. Anh Đ2 đóng trước 21 ngày là 10.500.000 đồng do nhóm cho vay thấy Đ2 sắp không còn khả năng chi trả nên thu nhiêu ngày, trừ bát ngày 19/1/2024 là 3.200.000 đồng và thu phí 300.000 đồng và 2.500.000 đồng tiền lãi, thì anh Đ2 nhận lại số tiền 8.500.000 đồng. (Lãi suất: 73%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 2.115.068 đồng). Gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).
  • + Khoản vay thứ 5: Đến ngày 29/03/2024 anh Đ2 tiếp tục vay số tiền 25.000.000 đồng trong vòng 50 ngày để đáo bát họ cũ ngày 29/02/2024, trừ của Đ2 2.500.000 đồng tiền lãi, số tiền của bát cũ còn thiếu là 10.000.000 đồng, và số tiền đóng trước 10 ngày tức 5.000.000 đồng. Do vậy số tiền anh Đ2 thực nhận về tay là 7.500.000 đồng. (Lãi suất: 73%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 1.815.068 đồng). Gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).
  • + Khoản vay thứ 6: Đến ngày 28/04/2024 anh Đ2 có vay số tiền 25.000.000 đồng hình thức bát họ trong vòng 63 ngày, số tiền lãi trừ là 2.500.000 đồng, trừ tiếp 9.500.000 đồng của bát cũ ngày 29/03/2024, số tiền đóng trước 14 ngày là 7.000.000 đồng. Do đó số tiền anh Đ2 thực nhận về tay là còn 6.000.000 đồng. (Lãi suất: 57,9%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 1.636.986 đồng). Gấp 2,895 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

- Đối với khách vay Phùng Quang T8 (Sinh năm:1991; Trú tại: Số G ngõ A T, B, Hà Nội) ngày 12/5/2024 có cho vay số tiền 15.000.000 đồng với hình thức vay lãi suất 5000đ/triệu/ngày. Cắt luôn số tiền lãi trong vòng 30 ngày là 2.250.000 đồng. Số tiền anh T8 thực nhận về là 12.750.000 đồng. (Lãi suất: 182,5%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 2.003.425 đồng). Gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

- Đối với khách vay Trương Minh H6 (Sinh năm: 1999; Trú tại: Số G ngách D Đ, C, B, Hà Nội). Ngày 12/5/2024 chị H6 có nhu cầu vay số tiền 15.000.000 đồng với hình thức bốc bát họ trong vòng 63 ngày nhưng sau khi nghe nói các chi phí phải trả thì chị có nói muốn số tiền thực nhận về tay được nhiều hơn, nếu thế thì phải vay “bát họ” số tiền 17.500.000 đồng để nhận được số tiền về tay theo nhu cầu và ý muốn, chị đồng ý vay và bị trừ số tiền lãi là 2.550.000 đồng, số tiền đóng trước 5 ngày là 1.395.000 đồng (mỗi ngày phải đóng 279.000 đồng), còn trừ thêm số tiền 2.775.000 đồng phí dịch vụ. Do đó số tiền thực nhận của chị H6 cầm về tay là 10.830.000 đồng. (Lãi suất: 84,4%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 4.720.890 đồng). Gấp 4,22 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

- Đối với khách Nguyễn Gia P1 (Sinh năm: 1993; Trú tại: C, B, Hà Nội). Ngày 15/4/2024 có cho anh P1 vay 20.000.000 đồng với hình thức bốc bát họ trong vòng 63 ngày, trừ của anh P1 số tiền lãi là 4.000.000 đồng, số tiền đóng trước 5 ngày là 1.590.000 đồng và phí dịch vụ thu thêm là 1.400.000 đồng. Do đó số tiền anh P1 thực tế nhận về tay là 13.010.000 đồng. (Lãi suất: 115,9%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 4.709.589 đồng). Gấp 5,795 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

- Đối với khách Nguyễn Duy H7 (Sinh năm:1984; Trú tại: P2306 A Chung cư K - K, Đ, H, Hà Nội) có cho vay số tiền 10.000.000 đồng với hình thức bát họ, anh H7 lấy “bát họ đủ” (tức là không cắt trước tiền lãi mà sẽ trả góp cả tiền gốc và tiền lãi vào số tiền đóng hàng ngày). Số tiền trừ thời điểm vay của anh H7 là gồm 575.000 đồng tiền phí dịch vụ và 925.000 đồng tiền đóng trước 5 ngày. Do vậy số tiền thực tế anh H7 cầm về tay là 8.500.000 đồng. Mỗi ngày anh H7 sẽ phải đóng số tiền là 185.000 đồng. (Lãi suất: 98,5%/01 năm; T2 thu lời bất chính: 682.523 đồng). Gấp 4,925 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/01 năm).

Đối với các khoản vay trên có 2 khoản vay (Nguyễn Gia P1, Phùng Quang T8) có lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (20%/năm). Tổng số tiền thu lời bất chính của nhóm là 6.713.014 đồng, đối với các khoản phí thu của khách thì Phan Minh H4 là người chủ động thu và hưởng lợi một mình, chưa đủ mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào lãi suất mà bị can Nguyễn Khắc T và các đối tượng liên quan thỏa thuận cho khách vay tiền, cơ quan điều tra xác định lãi suất vượt quá lãi suất mà Luật dân sự cho phép. Số tiền thu lời bất chính bị can và các đối tượng liên quan đã sử dụng vào mục đích cá nhân hết. Tại cơ quan điều tra bị can đã T và các đối tượng đã thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm của mình như đã nêu trên.

Cơ quan CSĐT Công an quận Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị can Nguyễn Khắc T; đối tượng Lê Trung H2, Nguyễn Thành Đ, Đỗ Huy H3 nhưng không phát hiện đồ vật, tài liệu gì có liên quan tới vụ án Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đang điều tra.

Cơ quan CSĐT Công an quận Đ tiến hành thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng với nội dung hiện đang điều tra vụ án cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự xảy ra trên địa bàn để truy tìm những ai đã từng vay lãi của các đối tượng, bị can nhưng không có người nào khác đến tố giác hành vi cho vay lãi nặng nêu trên.

Đối với hành vi cho vay của các đối tượng Nguyễn Thành Đ, Phan Minh H4, Đỗ Huy H3, Nguyễn Anh C2, Nguyễn Minh D3, Phan Minh H4, Đặng Tiến H5, Hoàng Tuấn L1, Nguyễn Hữu P và Lê Tuấn A chưa thỏa mãn điều kiện gấp 5 lần lãi xuất BLDS cho phép (20%/năm) và thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng, do vậy hành vi của các đối tượng trên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra có tờ trình UBND quận Đ xử phạt hành chính đối với các đối tượng trên số tiền 15.000.000 đồng về lỗi: Không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự theo điểm đ khoản 4 điều 12 nghị định 144/2021/NĐ-CP.

Đối với Nguyễn Văn T9 (sinh năm: 1986; trú tại: A A - Chung cư H, 505 M, V, H, Hà Nội) có mặt khi Cơ quan điều tra kiểm tra hành chính tại Phòng 601 chung cư H T, T, Đ, Hà Nội ngày 15/05/2024, cơ quan điều tra xác định không biết, không tham gia gì trong việc bị can T và các đối tượng hoạt động cho vay. Do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với tài khoản ngân hàng A1 số 35672317 mang tên Trần Ngọc L6. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Khắc T khai nhận là tài khoản mua trên mạng với mục đích để sử dụng trong hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Qua xác minh xác định, chủ tài khoản mang tên Trần Ngọc L6 (Sinh năm: 1985; trú tại: Số F T, H, Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, anh L6 khai chưa bao giờ sử dụng hay đăng ký số tài khoản trên, anh L6 không quen biết hay tham gia hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với các đối tượng trên. Do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với tài khoản ngân hàng T10 số 190388093347018 mang tên Ngô Thị Hương T6. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thành Đ khai nhận là tài khoản mua trên mạng với mục đích để sử dụng trong hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Qua xác minh xác định, chủ tài khoản mang tên Ngô Thị Hương T6 (Sinh năm: 2002; trú tại: Số D P, B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh). Tại cơ quan điều tra, chị T6 khai chưa bao giờ sử dụng hay đăng ký số tài khoản trên, anh L6 không quen biết hay tham gia hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với các đối tượng trên. Do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Vật chứng vụ án

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu ghi, dung lượng 64 (GB), Imei: 359305061501011 của Nguyễn Khắc T.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu ghi, dung lượng 128 (GB), Imei: 355335083541756 của Nguyễn Thành Đ.

Cáo trạng số: 351/CT-VKSĐĐ ngày 23/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Khắc T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Nguyễn Khắc T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 201 của Bộ luật hình sự; Điều 36, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc T từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Khắc T 30.000.000 đồng.

Về Biện pháp tư pháp:

Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T và Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 cùng liên đới phải truy nộp sung ngân sách Nhà nước số tiền là 9.238.972 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T truy nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền là 35.766.955 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T và Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 cùng liên đới trả cho bà Trần Thị Minh B số tiền 3.235.274 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T và Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 cùng liên đới phải trả cho anh Nguyễn Quang T1 số tiền 4.345.401 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T và Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 cùng liên đới phải trả cho anh Trần Long V số tiền 5.791.781 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T trả cho anh Nguyễn Thanh B1 số tiền thu lời bất chính 15.356.333 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T trả cho anh Nguyễn Hoàng Tuấn L số tiền thu lời bất chính 8.450.684 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T trả cho anh Trần Long V số tiền thu lời bất chính 17.572.054 đồng.

Buộc bà Trần Thị Minh B phải truy nộp lại sung Ngân sách nhà nước số tiền 30.000.000 đồng.

Buộc anh Nguyễn Quang T1 phải truy nộp lại sung Ngân sách nhà nước số tiền 46.221.428 đồng.

Buộc anh Trần Long V phải truy nộp lại sung Ngân sách nhà nước số tiền 31.535.000 đồng.

Buộc anh Nguyễn Thanh B1 phải truy nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 20.000.000 đồng.

Buộc anh Nguyễn Hoàng Tuấn L phải truy nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 20.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu ghi thu giữ của bị cáo T và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu ghi thu giữ của anh Nguyễn Thành Đ sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất vớilời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã thu được và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ năm 2023 đến ngày 15/05/2024, Nguyễn Khắc T đã cho nhiều khách vay tiền có tính lãi suất với mức lãi suất từ 107%-219%/năm (cao hơn mức gấp 05 lần của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự), Cụ thể như sau:

  • - Từ ngày 11/04/2024, cho chị Trần Thị Minh B vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 3.975.000 đồng trong thời hạn 45 ngày, tương đương 107,4%/năm, tiền phí 1.600.000 đồng. Số tiền lãi thực tế chị B đã trả là 1.575.000 đồng, số tiền lãi vượt mức là 2.495.548 đồng, số tiền thu lời bất chính là 4.835.274 đồng, chị B chưa trả tiền nợ gốc là 30.000.000 đồng.
  • - Từ ngày 14/05/2024, cho anh Nguyễn Quang T1 vay số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 13.500.000 đồng trong thời hạn 63 ngày, tương đương 156,4%/năm. Số tiền lãi vượt mức là 10.047.945 đồng, số tiền thu lời bất chính là 11.773.973 đồng, anh T1 chưa trả tiền nợ gốc là 50.000.000 đồng.
  • - Từ ngày 13/01/2024 đến ngày 05/05/2024, cho anh Trần Long V vay số tiền 30.000.000 đồng dưới hình thức trả lãi theo lãi suất 1.800.000 đồng/10 ngày, tương đương 219%/năm, tiền phí 800.000 đồng. Số tiền lãi vượt mức là 16.772.055 đồng, số tiền thu lời bất chính là 19.446.027 đồng, anh V đã thanh toán hết tiền nợ gốc là 30.000.000 đồng.
  • - Từ ngà 09/05/2024, cho anh Trần Long V vay số tiền 35.000.000 đồng, lãi suất 7.000.000 đồng trong thời hạn 63 ngày, tiền phí 500.000 đồng, tương đương 116%/năm. Số tiền lãi vượ mức là 5.791.781 đồng, số tiền thu lời bất chính là 6.291.781 đồng, anh V chưa trả hết tiền nợ gốc 35.000.000.
  • - Từ ngày 21/02/2023 đến ngày 14/05/2024, cho anh Nguyễn Thanh B1 vay số tiền 20.000.000 đồng dưới hình thức trả lãi theo lãi suất 3.400.000 đồng/01 tháng, tương đương 207%/năm, tiền phí 200.000 đồng. Số tiền lãi thực tế anh B1 đã trả cho T là 13.600.000 đồng, số tiền lãi vượt mức là 41.045.571 đồng, số tiền thu lời bất chính là 46.166.119 đồng, anh B1 chưa trả tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng.
  • - Từ ngày 23/01/2024 đến ngày 14/05/2024, cho anh Nguyễn Hoàng Tuấn L vay số tiền 20.000.000 đồng dưới hình thức trả lãi theo lãi suất 4.750 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương đương 173%/năm, tiền phí 150.000 đồng. Số tiền lãi thực tế anh L đã trả cho T là 9.700.000 đồng, số tiền lãi vượt mức là 8.258.288 đồng, số tiền thu lời bất chính là 9.646.644 đồng, anh L chưa trả tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng.

Tổng số tiền Nguyễn Khắc T thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là 98.159.818 đồng.

Như vậy có đủ căn cứ để xác định Nguyễn Khắc T đã phạm vào tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về hoạt động tín dụng, xâm phạm đến lợi ích tài chính của công dân. Bị cáo ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng hám lợi và thiếu hiểu biết pháp luật đã dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật. Bị cáo đã nhiều lần cho vay tiền với mức lãi suất cao, trong đó có 01 lần cho vay với mức lãi suất cao hơn 05 lần mức lãi suất tối đa mà pháp luật quy định và thu lợi bất chính trên 30.000.000 đồng. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình có xem xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như:

  • - Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội vì mục đích tư lợi nên xem xét áp dụng hình phạt cải tại không giam giữ để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 30.000.000 đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự.

[3] Về biện pháp tư pháp:

3.1. Khoản vay từ ngày 11/4/2024 của bà Trần Thị Minh B:

Đối với số tiền gốc 30.000.000 đồng, Nguyễn Khắc T cùng Nguyễn Hữu P và Hoàng Tuấn L1 cho bà Trần Thị Minh B vay, đây là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, khoản tiền này bà B chưa trả cho nhóm T, P, L1 nên cần truy thu của bà B số tiền 30.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

Đối với khoản tiền lãi nhóm T, P, L1 được phép thu tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự (mức lãi suất 20%/1 năm) mà nhóm đã thu của bà B, tương ứng số tiền 739.726 đồng, là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo Nguyễn Khắc T và Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 cùng liên đới phải truy nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền phí dịch vụ 1.600.000 đồng nhóm T, P, L1 thu của bà B, là khoản thu trái pháp luật nên cần buộc bị cáo Nguyễn Khắc T và Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 cùng liên đới phải truy nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 3.235.274 đồng là khoản tiền thu lợi bất chính mà thực tế nhóm T, P, L1 đã thu lãi từ bà B nên buộc bị cáo Nguyễn Khắc T, Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 cùng liên đới trả lại cho bà Trần Thị Minh B.

Như vậy đối với khoản vay này: Nguyễn Khắc T, Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 mỗi người phải nộp: 779.908 đồng truy thu sung công quỹ Nhà nước và 1.078.424 đồng trả lại cho bà Trần Thị Minh B.

3.2. Khoản vay từ ngày 14/5/2024 của anh Nguyễn Quang T1:

Đối với số tiền gốc 50.000.000 đồng, Nguyễn Khắc T cùng Nguyễn Hữu P và Hoàng Tuấn L1 cho anh Nguyễn Quang T1 vay, đây là số tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, khoản tiền này anh T1 chưa thanh toán hết cho T nên cần truy thu từ anh Nguyễn Quang T1 số tiền chưa thanh toán là 46.221.428 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.

Đối với khoản tiền lãi nhóm T, P, L1 được phép thu tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự (mức lãi suất 20%/1 năm) mà nhóm đã thu của anh T1, tương ứng số tiền 1.726.027 đồng, là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo Nguyễn Khắc T và Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 cùng liên đới phải truy nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 4.345.401 đồng là khoản tiền thu lợi bất chính mà thực tế nhóm T, P, L1 đã thu của anh T1 nên buộc bị cáo Nguyễn Khắc T vàNguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 cùng liên đới trả lại cho anh Nguyễn Quang T1.

Như vậy đối với khoản vay này: Nguyễn Khắc T, Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 mỗi người phải nộp: 575.342 đồng truy thu sung công quỹ Nhà nước và 1.448.467 đồng trả lại cho anh Nguyễn Quang T1.

3.3. Khoản vay từ ngày 09/5/2024 cho anh Trần Long V:

Đối với số tiền gốc 35.000.000 đồng, Nguyễn Khắc T cùng Nguyễn Hữu P và Hoàng Tuấn L1 cho anh Trần Long V vay, đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, khoản tiền này anh V chưa trả hết cho T nên cần truy thu từ anh Trần Long V số tiền nợ gốc anh V chưa thanh toán là 31.535.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền gốc 3.465.000 đồng anh Trần Long V đã trả cho nhóm T, P, L1 nên bị cáo Nguyễn Khắc T và Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 phải truy nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với khoản tiền lãi nhóm T, P, L1 được phép thu tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự (mức lãi suất 20%/1 năm) mà nhóm đã thu của anh V, tương ứng số tiền 1.208.219 đồng, là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo Nguyễn Khắc T và Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 phải truy nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền phí dịch vụ 500.000 đồng nhóm T, P, L1 thu của anh V, là khoản thu trái pháp luật từ hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo Nguyễn Khắc T và Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 trả lại cho anh V.

Đối với số tiền 5.791.781 đồng là khoản tiền thu lợi bất chính mà thực tế nhóm T, P, L1 đã thu lãi từ anh V nên buộc bị cáo Nguyễn Khắc T và Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 cùng liên đới trả lại cho anh Trần Long V.

Như vậy đối với khoản vay này: Nguyễn Khắc T, Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 mỗi người phải nộp: 1.557.396 đồng truy thu sung công quỹ Nhà nước và 2.097.260 đồng trả lại cho anh V.

3.4. Khoản vay từ ngày 21/02/2023 đến ngày 14/5/2024 của anh Nguyễn Thanh B1:

Đối với số tiền gốc 20.000.000 đồng, Nguyễn Khắc T cho anh Nguyễn Thanh B1 vay, đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, khoản tiền này anh B1 chưa trả cho T nên cần truy thu từ anh Nguyễn Thanh B1 số tiền 20.000.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.

Đối với khoản tiền lãi T được phép thu tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự (mức lãi suất 20%/1 năm) mà T đã thu của anh B1, tương ứng số tiền 1.643.667 đồng, là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo phải truy nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền phí dịch vụ 200.000 đồng bị cáo thu của anh B1, là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo Nguyễn Khắc T phải truy nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 15.356.333 đồng là khoản tiền thu lợi bất chính mà thực tế bị cáo đã thu lãi từ anh B1 nên buộc bị cáo trả lại cho anh Nguyễn Thanh B1.

3.5. Khoản vay từ ngày 23/01/2024 đến ngày 15/5/2024 của anh Nguyễn Hoàng Tuấn L:

Đối với số tiền gốc 20.000.000 đồng, Nguyễn Khắc T cho anh Nguyễn Hoàng Tuấn L vay, đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, khoản tiền này anh L chưa trả cho T nên cần truy thu từ anh Nguyễn Hoàng Tuấn L số tiền 20.000.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.

Đối với khoản tiền lãi T được phép thu tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự (mức lãi suất 20%/1 năm) mà T đã thu của anh L, tương ứng số tiền 1.249.315 đồng, là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo phải truy nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 8.450.684 đồng là khoản tiền thu lợi bất chính bao gồm tiền lãi vượt quá quy định và 150.000 đồng phí dịch vụ mà thực tế bị cáo đã thu của anh L nên buộc bị cáo trả lại cho anh Nguyễn Hoàng Tuấn L số tiền này.

3.6. Đối với khoản vay từ ngày 23/01/2024 đến ngày 05/5/2024 của anh Trần Long V:

Đối với số tiền gốc 30.000.000 đồng, Nguyễn Khắc T cho anh Trần Long V vay, đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Khoản tiền này anh V đã trả đủ cho T nên bị cáo phải truy nộp sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với khoản tiền lãi T được phép thu tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự (mức lãi suất 20%/1 năm) mà T đã thu của anh V, tương ứng số tiền 1.873.973 đồng, là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo phải truy nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 17.572.054 đồng là khoản tiền thu lợi bất chính tiền lãi vượt quá quy định và 800.000 đồng phí dịch vụ mà thực tế bị cáo đã thu lãi từ anh V nên buộc bị cáo trả lại cho anh Trần Long V số tiền này.

Như vậy, số tiền bị cáo T, anh Nguyễn Hữu P, anh Hoàng Tuấn L1 phải truy nộp sung Ngân sách Nhà nước và trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan như sau:

  • Bị cáo Nguyễn Khắc T truy nộp vào ngân sách Nhà nước tổng số tiền là 37.679.601 đồng.
  • Anh Hoàng Tuấn L1 truy nộp vào ngân sách Nhà nước tổng số tiền là 2.912.646 đồng.
  • Anh Nguyễn Hữu P truy nộp vào ngân sách Nhà nước tổng số tiền là 2.912.646 đồng.
  • Bị cáo Nguyễn Khắc T và Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 cùng liên đới phải trả cho bà Trần Thị Minh B số tiền 3.235.274 đồng, chia theo kỷ phần mỗi người phải nộp là 1.078.424 đồng
  • Bị cáo Nguyễn Khắc T và Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 cùng liên đới phải trả cho anh Nguyễn Quang T1 số tiền 4.345.401 đồng, chia theo kỷ phần mỗi người phải nộp là 1.448.467 đồng
  • Bị cáo Nguyễn Khắc T và Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 cùng liên đới phải trả cho anh Trần Long V số tiền 6.291.781 đồng, chia theo kỷ phần mỗi người phải nộp là 2.097.260 đồng
  • Bị cáo Nguyễn Khắc T trả cho anh Nguyễn Thanh B1 số tiền 15.356.333 đồng.
  • Bị cáo Nguyễn Khắc T trả cho anh Nguyễn Hoàng Tuấn L số tiền 8.450.684 đồng.
  • Bị cáo Nguyễn Khắc T trả cho anh Trần Long V số tiền 17.572.054 đồng.

Số tiền nợ gốc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải truy nộp sung Ngân sách Nhà nước như sau:

  • Bà Trần Thị Minh B phải truy nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 30.000.000 đồng.
  • Anh Nguyễn Quang T1 phải truy nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 46.221.428 đồng.
  • Anh Trần Long V phải truy nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 31.535.000 đồng.
  • Anh Nguyễn Thanh B1 phải truy nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 20.000.000 đồng.
  • Anh Nguyễn Hoàng Tuấn L phải truy nộp lại sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 20.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu ghi và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu ghi thu giữ của bị cáo và anh Nguyễn Thành Đ là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[4]Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi cho vay của các đối tượng Nguyễn Thành Đ, Phan Minh H4, Đỗ Huy H3, Nguyễn Anh C2, Nguyễn Minh D3, Phan Minh H4, Đặng Tiến H5, Hoàng Tuấn L1, Nguyễn Hữu P và Lê Tuấn A chưa thỏa mãn điều kiện gấp 5 lần lãi xuất BLDS cho phép (20%/năm) và thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng, do vậy hành vi của các đối tượng trên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra có tờ trình UBND quận Đ xử phạt hành chính đối với các đối tượng trên số tiền 15.000.000 đồng về lỗi: Không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự theo điểm đ khoản 4 điều 12 nghị định 144/2021/NĐ-CP nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn Văn T9 (sinh năm: 1986; trú tại: A A - Chung cư H, 505 M, V, H, Hà Nội) có mặt khi Cơ quan điều tra kiểm tra hành chính tại Phòng 601 chung cư H T, T, Đ, Hà Nội ngày 15/05/2024, cơ quan điều tra xác định không biết, không tham gia gì trong việc bị can T và các đối tượng hoạt động cho vay. Do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với tài khoản ngân hàng A1 số 35672317 mang tên Trần Ngọc L6. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Khắc T khai nhận là tài khoản mua trên mạng với mục đích để sử dụng trong hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Qua xác minh xác định, chủ tài khoản mang tên Trần Ngọc L6 (Sinh năm: 1985; trú tại: Số F T, H, Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, anh L6 khai chưa bao giờ sử dụng hay đăng ký số tài khoản trên, anh L6 không quen biết hay tham gia hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với các đối tượng trên. Do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với tài khoản ngân hàng T10 số 190388093347018 mang tên Ngô Thị Hương T6. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thành Đ khai nhận là tài khoản mua trên mạng với mục đích để sử dụng trong hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Qua xác minh xác định, chủ tài khoản mang tên Ngô Thị Hương T6 (Sinh năm: 2002; trú tại: Số D P, B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh). Tại cơ quan điều tra, chị T6 khai chưa bao giờ sử dụng hay đăng ký số tài khoản trên, anh L6 không quen biết hay tham gia hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với các đối tượng trên. Do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự".

Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 36 Bộ luật Hình sự, Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị Quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và việc việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, điểm b khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 01/2023/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 18/01/2023.

Xử phạt: Nguyễn Khắc T 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Khắc T cho Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Hà Nội để giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo Nguyễn Khắc T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Hà Nội để giám sát giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Khắc T thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Khắc T 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo Nguyễn Khắc T.

Về biện pháp tư pháp:

Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T truy nộp vào ngân sách Nhà nước tổng số tiền là 37.679.601 đồng.(ba mươi bảy triệu sáu trăm bảy mươi chín nghìn sáu trăm linh một đồng).

Buộc anh Hoàng Tuấn L1 truy nộp vào ngân sách Nhà nước tổng số tiền là 2.912.646 đồng.(Hai triệu chín trăm mười hai nghìn sáu trăm bốn mươi sáu đồng)

Buộc anh Nguyễn Hữu P truy nộp vào ngân sách Nhà nước tổng số tiền là 2.912.646 đồng.(Hai triệu chín trăm mười hai nghìn sáu trăm bốn mươi sáu đồng)

Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T và Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 cùng liên đới phải trả cho bà Trần Thị Minh B số tiền 3.235.274 đồng, chia theo kỷ phần mỗi người phải nộp là 1.078.424 đồng (Một triệu không trăm bảy mươi tám nghìn bốn trăm hai mươi bốn đồng)

Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T và Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 cùng liên đới phải trả cho anh Nguyễn Quang T1 số tiền 4.345.401 đồng, chia theo kỷ phần mỗi người phải nộp là 1.448.467 đồng(Một triệu bốn trăm bốn mươi tám nghìn bốn trăm sáu mươi bảy đồng)

Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T và Nguyễn Hữu P, Hoàng Tuấn L1 cùng liên đới phải trả cho anh Trần Long V số tiền 6.291.781 đồng, chia theo kỷ phần mỗi người phải nộp là 2.097.260 đồng(Hai triệu không trăm chín mươi bảy nghìn hai trăm sáu mươi đồng)

Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T trả cho anh Nguyễn Thanh B1 số tiền 15.356.333 đồng.(Mười lăm triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn ba trăm ba mươi ba đồng)

Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T trả cho anh Nguyễn Hoàng Tuấn L số tiền 8.450.684 đồng.(Tám triệu bốn trăm năm mươi nghìn sáu trăm tám mươi tư đồng)

Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T trả cho anh Trần Long V số tiền 17.572.054 đồng.(Mười bảy triệu năm trăm bảy mươi hai nghìn không trăm năm mươi tư đồng).

Buộc Bà Trần Thị Minh B truy nộp sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 30.000.000 đồng.(Ba mươi triệu đồng)

Buộc Anh Nguyễn Quang T1 truy nộp sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 46.221.428 đồng. (Bốn sáu triệu hai trăm hai mươi mốt nghìn bốn trăm hai mươi tám đồng)

Buộc Anh Trần Long V phải truy nộp sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 31.535.000 đồng.(Ba mươi mốt triệu năm trăm ba mươi lăm nghìn đồng)

Buộc Anh Nguyễn Thanh B1 truy nộp sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 20.000.000 đồng.(Hai mươi triệu đồng)

Buộc Anh Nguyễn Hoàng Tuấn L truy nộp sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 20.000.000 đồng. (Hai mươi triệu đồng)

Đối với khoản tiền phải trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nếu chậm thi hành án, sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất không kỳ hạn của Ngân hàng N1, tương ứng với khoản tiền chậm thi hành án kể từ khi có đơn yêu cầu được bồi thường của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cho tới khi thi hành xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu ghi, mặt kính màn hình bị nứt, mặt sau điện thoại bị xước, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu ghi, mặt sau điện thoại bị xước, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 47 ngày 06 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa)

Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Khắc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Đống Đa, TP. Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Công an quận Đống Đa, TP. Hà Nội;
  • - Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa, TP. Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo, người liên quan
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 389/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 389/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dânsự" Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Nguyễn Khắc T 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger