Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 389/2024/HC-PT
Ngày: 11-6-2024
V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực đất đai thuộc trường hợp bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh

Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết

Ông Cao Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý - Thư ký Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở; Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1011/2023/TLPT-HC ngày 22/12/2023 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 126/2023/HC-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1203/2023/QĐ-PT ngày 23 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Đỗ Tấn D, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1976

Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền:

Ông Nguyễn Thế K, sinh năm 1975; địa chỉ: Số H đường T, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt).

Địa chỉ: Số A N, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Địa chỉ liên hệ: Số G đường B, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

(Giấy ủy quyền ngày 14-11-2022)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện:

Luật sư Bùi Trường C, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện C

Địa chỉ: Số B đường T, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:

Ông Nguyễn Chí C1, Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện C (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1972 và bà Huỳnh Thị T2, sinh năm 1975

Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

-Người kháng cáo: Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 31-8-2022, Ủy ban nhân dân (UBND) huyện C ban hành Quyết định số 1315/QĐ-UBND về việc thu hồi 523,6 m² đất của các ông (bà): Nguyễn Văn T1 và Huỳnh Thị T2; Đỗ Tấn D và Nguyễn Thanh T cùng sử dụng để thực hiện dự án đầu tư mới Trung tâm y tế Quân - Dân y huyện C (viết tắt là Quyết định số 1315/QĐ-UBND).

Cùng ngày 31-8-2022, UBND huyện C ban hành Quyết định số 1323/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và giao đất tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với các ông (bà): Nguyễn Văn T1 và Huỳnh Thị T2; Đỗ Tấn D và Nguyễn Thanh T cùng sử dụng để thực hiện dự án đầu tư mới Trung tâm y tế Quân - Dân y huyện C (viết tắt là Quyết định số 1323/QĐ-UBND). Trong đó:

  • - Tại mục 1.1 phần 1 Điều 1 của Quyết định: Diện tích đất bồi thường 523,6 m², trong đó đất thương mại, dịch vụ 198 m² thuộc vị trí 5 với đơn giá là 1.962.982 đồng/m². Đất nông nghiệp 325,6 m² thuộc vị trí 5 với đơn giá là 1.827.000 đồng/m². Tiền bồi thường về đất tổng cộng 983.541.664 đồng.
  • - Tại mục 2.1 phần 2 Điều 1 của Quyết định về tài sản của ông Đỗ Tấn D:

    Nhà ở: Không đủ điều kiện bồi thường (gồm nhà chính 02 tầng, nhà tạm, mái che tôn, hầm tự hoại).

    Công trình, vật kiến trúc: Được bồi thường 157.562.100 đồng (gồm trụ cổng, khung sắt, móng đá hộc, sân bê tông, chuồng gà, hàng rào).

  • - Tại mục 4.1 phần 4 Điều 1 của Quyết định về hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất: Ông T1, ông D được hỗ trợ với số tiền là 28.800.000 đồng.
  • - Tại mục 4.2 phần 4 Điều 1 của Quyết định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm với số tiền là 63.980.400 đồng.
  • Mục 4.3 phần 4 Điều 1: Ông D được hỗ trợ di chuyển tài sản với số tiền là 6.300.000 đồng.
  • Mục 4.4 phần 4 Điều 1: Ông D, bà T không đủ điều kiện được bồi thường bằng đất ở do không thu hồi đất ở và nhà ở, không được cấp có thẩm quyền cấp phép xây dựng. Được hỗ trợ cho thuê, mua 01 căn nhà ở xã hội tại Chung cư cho người có thu nhập thấp.

Ông D, bà T không đồng ý đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Hủy mục 1.1 phần 1, mục 2.2 phần 2 và mục 4.2, mục 4.3, mục 4.4 phần 4 Điều 1 của Quyết định số 1323/QĐ-UBND.
  • - Buộc UBND huyện C:
    • + Bồi thường diện tích đất còn lại là 3,8 m².
    • + Bồi thường giá trị quyền sử dụng đất thu hồi theo giá thị trường.
    • + Xác định lại đất thu hồi thuộc vị trí 4 đường H.
    • + Bồi thường các công trình, vật kiến trúc xây trên đất bị thu hồi.
    • + Tính lại chi phí hỗ trợ di chuyển tài sản.
    • + Giao một lô đất ở mới thay cho hình thức thuê, mua nhà ở xã hội.

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, người khởi kiện và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện cùng trình bày:

Vợ chồng Đỗ Tấn D, bà Nguyễn Thanh T và vợ chồng ông Nguyễn Văn T1, bà Huỳnh Thị Thanh n chuyển nhượng chung diện tích 527,4 m² đất nông nghiệp khác thuộc thửa đất số 124, tờ bản đồ 06 tại đường H, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông D đại diện làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng 198 m² đất nông nghiệp khác thành đất thương mại, dịch vụ. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 527,4 m². Trong đó, diện tích 198 m² đất thương mại, dịch vụ có thời hạn sử dụng đến hết ngày 03-08-2068 và diện tích 329,4 m² đất nông nghiệp khác có thời hạn sử dụng đến tháng 10-1963. Diện tích đất 527,4 m² được thỏa thuận phân chia như sau:

  • - Ông T1, bà T2 sử dụng 240 m² đất gồm 87 m² đất thương mại, dịch vụ và 153 m² đất nông nghiệp khác.
  • - Ông D, bà T sử dụng 287,4 m² đất gồm 111 m² đất thương mại, dịch vụ và 176,4 m² đất nông nghiệp khác.

Thực hiện dự án Trung tâm y tế Q - Dân y huyện C, UBND huyện C đã thu hồi 198 m² đất thương mại dịch vụ và 325,6 m² đất nông nghiệp khác (diện tích còn lại 3,8 m² đất nông nghiệp) nhưng bồi thường và hỗ trợ không thỏa đáng, có nhiều sai sót, cụ thể:

  • - Về diện tích đất bồi thường: Diện tích đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 527,4 m². Diện tích đất thu hồi là 523,6 m². Diện tích đất còn lại là 3,8 m² không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, UBND huyện C không thu hồi toàn bộ diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không bồi thường diện tích đất còn lại 3,8 m² làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất.
  • - Về vị trí đất bồi thường: UBND huyện xác định vị trí đất bồi thường thuộc vị trí 5 là sai. Khi làm hồ sơ chuyển mục đích sử dụng 198 m² đất nông nghiệp sang đất thương mại dịch vụ, ông D đã nộp tiền sử chuyển mục đích sử dụng đất theo vị trí 4, đường loại 2. Theo đó, ông D đã nộp tổng cộng 84.348.000 đồng theo Thông báo số 43/2018/TBTĐ-CCT ngày 14-8-2018 của Chi cục Thuế huyện C. Yêu cầu bồi thường đất cho ông D, bà T theo vị trí 4, đường loại 2.
  • - Về giá đất bồi thường: Giá đất bồi thường căn cứ vào Quyết định số 1390/QĐ-UBND ngày 09-05-2022 của UBND tỉnh B về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính bồi thường khi nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án đầu tư mới Trung tâm y tế Q - Dân y huyện C là quá thấp so với mặt bằng chung về giá đất trên địa bàn huyện C. Đơn giá đất thương mại dịch vụ và đất nông nghiệp theo quyết định trên có sự chênh lệch với nhau không đáng kể, điều bất hợp lý này xuất phát từ việc khảo sát giá đất thương mại dịch vụ có thời hạn 70 năm, trong khi đó thời hạn Nhà nước cho thuê đất thương mại dịch vụ đối với hộ gia đình, cá nhân chỉ là 50 năm. Thực tế cho thấy, đất thương mại dịch vụ là đất phi nông nghiệp được sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh, có giá trị kinh tế cao hơn nhiều so với đất nông nghiệp. Khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất thương mại dịch vụ, ông D và bà T cũng phải đóng một số tiền sử dụng đất không nhỏ. Tuy nhiên, giá bồi thường đất thương mại dịch và đất nông nghiệp chênh lệch không đáng kể là bất hợp lý. Việc phê duyệt giá đất không phù hợp với điều kiện thực tế đặc thù về đất đai trên địa bàn huyện C. Giá đất bồi thường quá thấp so với giá đất thị trường tại địa phương.
  • - Về nhà ở trên đất không được bồi thường: Ông D, bà T trước đây kinh doanh Internet nhưng sau đó do dịch bệnh và chỗ ở mới trong hẻm đã chuyển qua kinh doanh online các mặt hàng hải sản, thịt cá và rau củ quả. Ông D, bà T làm nhà kho để có mặt bằng chứa đồ như tủ đông, kiện hàng, thùng xốp và các vật dụng liên quan. Việc làm nhà kho của ông D, bà T được UBND huyện chấp thuận bằng Văn bản số 1517/UBND-TNMT. Quá trình làm nhà kho, ông D và bà T đã làm thêm gác lửng (không phải nhà 02 tầng) để có chỗ ở và trông coi hàng hóa. Tài sản trên đất của ông D, bà T được tạo lập hợp pháp, không thuộc các trường hợp không được bồi thường tài sản trên đất. UBND huyện C không bồi thường cho ông D, bà T đối với phần tài sản (nhà kho tạm) là trái quy định pháp luật.
  • - Về hỗ trợ di chuyển tài sản: Căn cứ Quyết định số 1323/QĐ-UBND, nhà ông D, bà T được nhận khoản hỗ trợ di chuyển tài sản đối với hộ gia đình, cá nhân là 6.300.000 đồng là không chính xác. Ông D, bà T được phép xây dựng nhà kho tạm theo Văn bản số 1517/UBND-TNMT. Việc xây dựng nhà kho tạm này trên đất thương mại dịch vụ để chứa các mặt hàng kinh doanh. Do đó, việc hỗ trợ kinh phí di dời phải áp dụng đối với hộ gia đình được nhà nước giao đất để sản xuất, kinh doanh.
  • Căn cứ vào quy định trên, Cơ quan có thẩm quyền phải thẩm định chi phí tháo dỡ, di chuyển và lắp đặt; xác định thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt để làm cơ sở hỗ trợ di dời cho gia đình ông D, bà T. Không thể áp dụng mức dành cho hộ gia đình, cá nhân (6.300.000 đồng). Căn cứ pháp lý Điều 91 Luật Đất Đai 2013 và khoản 2 Điều 9 Quyết định số 52/2014/QĐ-UBND và Khoản 2 Điều 1 Quyết định số 25/2016/QĐ-UBND sửa đổi, bổ sung 52/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh B.
  • - Về bồi thường hỗ trợ về đất thương mại, dịch vụ, nhà ở tái định cư: UBND huyện giải quyết cho ông D, bà T được thuê, mua 01 căn nhà ở xã hội tại chung cư cho người có thu nhập thấp là chưa tính toán đến nhu cầu mưu sinh và cuộc sống hiện tại của gia đình. Ông D, bà T buôn bán các mặt hàng nhu yếu phẩm như hải sản, trái cây, rau củ quả, cần có mặt bằng để chứa hàng hàng hóa. Việc ở chung cư sẽ không phù hợp với nghề nghiệp và cuộc sống mưu sinh của gia đình. Trên địa bàn huyện C, gia đình ông D, bà T không có thửa đất nào khác, sau khi thu hồi đất phải thuê mặt bằng với giá 5.000.000 đồng/tháng để buôn bán mưu sinh lo cho các con ăn học, cuộc sống rất khó khăn. Ông D, bà T bị thu hồi toàn bộ đất, không còn chỗ nào để tiếp tục công việc kinh doanh buôn bán. UBND huyện đã triển khai dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư trung tâm huyện C, được phân thành nhiều lô đất có diện tích từ 80m² - 95m². Ông D, bà T đề nghị được giao một lô đất ở mới thay cho hình thức thuê, mua nhà ở xã hội. Căn cứ khoản 2 Điều 79 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 22 Quyết định số 52/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh B.

Do vậy, ông D và bà T khởi kiện đến Tòa án với các yêu cầu như trên để bảo vệ quyền lợi của mình.

Tại tòa, đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện yêu cầu bồi thường giá đất thương mại, dịch vụ theo giá đất ở.

Ý kiến của người bị kiện UBND huyện C:

  • - Diện tích đất thu hồi: Ông D, bà T và ông T1, bà T2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 799219 và CO 799220 ngày 10-9-2018 với tổng diện tích 527,4 m² đất TMD+NKH thuộc thửa đất số 124 tờ bản đồ 06 (NKH =329,4 m² và TMD=198 m²) tại đường H, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Diện tích đất thu hồi là 523,6m².
  • - Về hồ sơ thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ khi thu hồi đất:

    Căn cứ Quyết định số 2742/QĐ-UBND ngày 13-9-2021 của UBND tỉnh B về việc phê duyệt dự án Đầu tư mới Trung tâm y tế Quân - Dân y huyện C

    Căn cứ Kế hoạch sử dụng đất năm 2022 của huyện C đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 1318/QĐ-UBND ngày 14-4-2022.

    Căn cứ Kế hoạch số 224/KH-UBND ngày 13-9-2021 của UBND huyện C về việc ban hành kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm để thực hiện dự án Đầu tư mới Trung tâm y tế Q - Dân y huyện C.

    Căn cứ Quyết định số 1390/QĐ-UBND ngày 09-5-2022 về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Đầu tư mới Trung tâm y tế Q - Dân y huyện C.

    Ngày 24-01-2022, UBND huyện ban hành Thông báo số 37/TB-UBND về việc Thông báo thu hồi đất để thực hiện dự án Đầu tư mới Trung tâm Y tế Quân - Dân y huyện C.

    Ngày 17-02-2022, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện lập Biên bản số 4A/BBKK về việc kiểm đếm thống kê nhà ở và các tài sản bị ảnh hưởng đối với hộ các ông (bà) Nguyễn Văn T1 và Huỳnh Thị T2, ông Đỗ Tấn D và bà Nguyễn Thị T3 để thực hiện dự án.

    Ngày 19-5-2022, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện ban hành Thông báo số 45/TB-PTQĐ về niêm yết công khai và lấy ý kiến về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án.

    Ngày 29-6-2022, UBND huyện C ban hành Quyết định số 954/QĐ-UBND về việc thu hồi 523,6 m² đất của các ông (bà): Nguyễn Văn T1 và Huỳnh Thị T2; Đỗ Tấn D và Nguyễn Thanh T cùng sử dụng để thực hiện dự án: Đầu tư mới Trung tâm y tế Q - Dân y huyện C.

    Ngày 29-6-2022, UBND huyện C ban hành Quyết định số 1323/QĐ-UBND về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và Quyết định số 970/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với các ông (bà): Nguyễn Văn T1 và Huỳnh Thị T2; Đỗ Tấn D và và Nguyễn Thanh T cùng sử dụng để thực hiện dự án: Đầu tư mới Trung tâm y tế Q - Dân y huyện C.

    Ngày 11-8-2022, UBND huyện C ban hành Quyết định số 1170/QĐ-UBND điều chỉnh, bổ sung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với các ông (bà): Nguyễn Văn T1 và Huỳnh Thị T2; Đỗ Tấn D và và Nguyễn Thanh T cùng sử dụng để thực hiện dự án: Đầu tư mới Trung tâm y tế Q - Dân y huyện C. Theo đó, hộ các ông Đỗ Tấn D và bà Nguyễn Thị T3 được bồi thường, hỗ trợ cho thuê, mua 01 căn nhà ở xã hội tại Chung cư cho người có thu nhập thấp.

    Ngày 31-8-2022, UBND huyện C ban hành Quyết định số 1315/QĐ-UBND về việc thu hồi 523,6m² đất của các ông (bà): Nguyễn Văn T1 và Huỳnh Thị T2; Đỗ Tấn D và và Nguyễn Thanh T cùng sử dụng để thực hiện dự án: Đầu tư mới Trung tâm Y tế Quân - Dân y huyện C (Quyết định này thay thế Quyết định số 954/QĐ-UBND ngày 29-6-2022 của UBND huyện C).

    Ngày 31-8-2022, UBND huyện ban hành Quyết định số 1323/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với các ông (bà): Nguyễn Văn T1 và Huỳnh Thị T2; Đỗ Tấn D và và Nguyễn Thanh T cùng sử dụng để thực hiện dự án: Đầu tư mới Trung tâm Y tế Quân - Dân y huyện C. Theo đó, ông Đỗ Tấn D và bà Nguyễn Thanh T không đủ điều kiện được bồi thường bằng đất ở do không thu hồi đất ở và nhà ở không được cấp có thẩm quyền cấp Giấy phép xây dựng; được hỗ trợ cho thuê, mua 01 căn nhà ở xã hội tại Chung cư cho người có thu nhập thấp (Quyết định này thay thế Quyết định số 970/QĐ-UBND ngày 29-6-2022 và Quyết định số 1170/QĐ-UBND ngày 11-8-2022 của UBND huyện C).

  • - Bồi thường về đất: Các ông (bà) Nguyễn Văn T1 và Huỳnh Thị T2; Đỗ Tấn D và và Nguyễn Thanh T đủ điều kiện được bồi thường về đất. Tuy nhiên, quỹ đất tại huyện C hạn chế theo đó UBND bồi thường bằng tiền theo quy định tại Điều 74 Luật Đất đai 2013. Giá đất bồi thường được xác định dựa trên giá đất cụ thể kèm theo Quyết định số 1390/QĐ-UBND của UBND tỉnh về việc phê duyệt giá đất cụ thể.
  • Về vị trí đất: Đất của ông D, bà T không có lối ra hợp pháp đến đường chính nên thuộc vị trí E đường H, không phải vị trí 4.
  • Về bồi thường tài sản trên đất: Các tài sản trên diện tích đất bị thu hồi là do ông D và bà T tạo lập trái pháp luật do ngày 22-5-2019, UBND huyện có Công văn số 1517/UBND-TNMT về việc cho phép bà T làm nhà kho với diện tích khoảng 10 m x12 m = 120 m², kết cấu kho tạm: Khung cột sắt, mái vách lợp tôn; mục đích sử dụng tạm chứa vật tư, dụng cụ, không sử dụng vào mục đích ở. Do đó, không đủ điều kiện bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật Đất đai 2013.
  • Việc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai năm 2013 quy định hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất thì UBND huyện C đã thực hiện hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đối với các ông (bà): Nguyễn Văn T1 và Huỳnh Thị T2; Đỗ Tấn D và Nguyễn Thanh T theo đúng quy định của pháp luật.
  • Về hỗ trợ tái định cư: Hộ gia đình ông D và bà T không đủ điều kiện tái định cư do không thu hồi đất ở và không được cấp có thẩm quyền cấp phép xây dựng. Được hỗ trợ cho thuê, mua 01 căn nhà ở xã hội tại Chung cư cho người có thu nhập thấp.

Đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông D, bà T.

Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông T1, bà T2 thống nhất với ý kiến và yêu cầu khởi kiện của ông D, bà T. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D, bà T. Ông T1, bà T2 xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến gì thêm.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số: 126/2023/HS-CT ngày 25/8/2023
của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng Hành chính;

Căn cứ khoản 2 Điều 74; khoản 2 Điều 79; khoản 1, khoản 2 Điều 83; khoản 2 Điều 89, khoản 2 Điều 92; điểm c khoản 1 Điều 112; khoản 3, điểm đ khoản 4 Điều 114; khoản 1 Điều 153 Luật Đất đai năm 2013.

Căn cứ khoản 4 Điều 6, khoản 4 Điều 7 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ.

Căn cứ mục 2.2.5.4 Phụ lục 01 Thông tư số 27/2018/TT-BTNMT ngày 14-12-2018 của Bộ T4.

Căn cứ khoản 3 Điều 8 Thông tư số 09/2021/TT-BTNMT30-6-2021 của Bộ T4.

Căn cứ khoản 1 Điều 1; điểm b khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 2 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 65/2014/QĐ-UBND ngày 19-12-2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh B

Căn cứ khoản 1 Điều 4 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 38/2019/QĐ-UBND ngày 20-12-2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh B

Căn cứ khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Tấn D, bà Nguyễn Thanh T.

  • - Hủy mục 1.1 phần 1; mục 2.1 phần 2 và mục 4.4 phần 4 Điều 1 của Quyết định số 1323/QĐ-UBND ngày 31-8-2022 của Ủy ban nhân dân huyện C.
  • - Buộc Ủy ban nhân dân huyện C thực hiện nhiệm vụ, công vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất của ông Đỗ Tấn D, bà Nguyễn Thanh T theo quy định của pháp luật; xác định lại vị trí đất thu hồi thuộc vị trí 4, xác định lại giá đất bồi thường và bồi thường nhà ở, vật kiến trúc trên đất cho ông Đỗ Tấn D, bà Nguyễn Thanh T.
  • - Buộc Ủy ban nhân dân huyện C giao một lô đất ở mới cho ông Đỗ Tấn D và bà Nguyễn Thanh T theo quy định của pháp luật.

2. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Tấn D, bà Nguyễn Thanh T về việc:

  • - Hủy mục 4.2 và mục 4.3 phần 4 Điều 1 của Quyết định số 1323/QĐ-UBND ngày 31-8-2022 của Ủy ban nhân dân huyện C.
  • - Buộc Ủy ban nhân dân huyện C: Bồi thường diện tích đất còn lại 3,8 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bồi thường giá trị quyền sử dụng đất thu hồi theo giá thị trường và tính lại chi phí hỗ trợ di chuyển tài sản.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, người khởi kiện là ông Đỗ Tấn D, bà Nguyễn Thanh T không có kháng cáo; ngày 03/10/2023 người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện C có đơn kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm về các nội dung sau: Xác định vị trí đất, đơn giá bồi thường, bồi thường tài sản trên đất, giao cho ông D bà T một lô đất ở mới. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của ông D, bà T về các nội dung nêu trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện C vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm và các đương sự khác đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện phát biểu:

  • - Toà án cấp sơ thẩm xác định đất của ông D có vị trí 4 là không đúng vì thửa đất số 124, tờ bản đồ số 6 của ông D bị vây bọc bởi các thửa đất khác và không có lối đi hợp pháp nên căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 4 Quyết định số 38/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh B thì thửa đất của ông D thuộc vị trí 5. Lối đi chung do các hộ dân tự mở không được xác định là đường hoặc hẻm giao thông do Nhà nước quản lý.
  • -Thửa đất số 124 tờ bản đồ số 06 được Sở T5 ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/9/2018 cho ông D bà T cùng sử dụng với ông T1 bà T2 với diện tích 527,4m2; trong đó có 198m2 đất thương mai dịch vụ và 329,4m2 đất trồng cây lâu năm. Thời hạn đất thương mại dịch vụ 50 năm (sử dụng đến tháng 3/2068); đất trồng cây lâu năm sử dụng đến tháng 10/2063. Căn cứ Điều 80 Luật đất đai năm 2013 và điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì Ủy ban nhân dân huyện C xác định thời hạn còn lại của phần đất này để tính giá bồi thường là đúng theo Quyết định 1390/QĐ-UBND ngày 09/5/2022 của UBND tỉnh B.
  • - Ngày 22/5/2019 Ủy ban nhân dân huyện C có Văn bản số 1517/UBND-TNMT về việc cho phép bà Nguyễn Thanh T - Khu dân cư số 8 làm nhà kho với diện tích khoảng 10 m x 12 m = 120 m²; kết cấu kho tạm: khung cột sắt, mái vách lợp tôn; mục đích sử dụng: tạm chứa vật tư, dụng cụ, không sử dụng vào mục đích ở. Tuy nhiên, ông D bà T lại xây dựng nhà để ở là tạo lập tài sản trái pháp luật, không đúng theo yêu cầu của UBND huyện C nên không đủ điều kiện bồi thường theo khoản 2 Điều 92 Luật đất đai năm 2013.
  • - Thửa đất số 124 tờ bản đồ số 06 được Sở T5 ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/9/2018 cho ông D bà T cùng sử dụng với ông T1 bà T2 với diện tích 527,4m2; trong đó có 198m2 đất thương mai dịch vụ và 329,4m2 đất trồng cây lâu năm. Thời hạn đất thương mại dịch vụ 50 năm (sử dụng đến tháng 3/2068); đất trồng cây lâu năm sử dụng đến tháng 10/2063. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều 79 Luật đất đai năm 2013 thì diện tích đất này của ông D không đủ điều kiện bồi thường về đất ở khi thu hồi đất và không đủ điều kiện hỗ trợ tái định cư.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp cho người khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người bị kiện và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính. Các đương sự thự hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo luật định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của Ủy ban nhân dân huyện C và sửa Bản án sơ thẩm. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Tấn D, bà Nguyễn Thanh T về việc hủy mục 2.1 phần 2 và mục 4.4 phần 4 Điều 1 của Quyết định số 1323/QĐ-UBND ngày 31-8-2022 của Ủy ban nhân dân huyện C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về đối tượng khởi kiện, về thẩm quyền xét xử, về thời hiệu khởi kiện như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm là đúng quy định pháp Luật Tố tụng hành chính.

Xét yêu cầu kháng cáo của người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện C đề nghị huỷ sửa một phần Bản án sơ thẩm, thấy rằng:

[2] Về xác định vị trí đất, đơn giá bồi thường:

[2.1] Căn cứ vào hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất của ông Đỗ Tấn D đối với thửa đất số 124, tờ bản đồ số 06 tại đường H, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thể hiện: Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất số LTB1871713-TK0000639/TB-CCT, Thông báo về việc nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước số 43/2018/TBTĐ-CCT và Thông báo đơn giá nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước số DG.639.TB-TDAT cùng ngày 14-8-2018 của Chi cục Thuế huyện C thì diện tích đất chuyển mục đích sử dụng đất là 198 m² thuộc vị trí 4 đường H. Ông D đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất 84.348.000 đồng cho Nhà nước theo vị trí 4. Ngày 10-9-2018, ông D được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 198 m² đất thương mại dịch vụ và sử dụng ổn định đến thời điểm thu hồi đất.

Đồng thời, theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28-7-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; thửa đất ông D và bà T sử dụng chung với ông T1 và bà T2 có 01 cạnh tiếp giáp với đường hẻm bê tông rộng khoảng 4m. Từ vị trí đất thu hồi ra đến đường H khoảng hơn 50 m và dưới 100 m. Đường bê tông này do người dân tự mở trước thời điểm nhận chuyển nhượng đất, người dân sử dụng làm lối đi chung và quá trình sử dụng không bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính về đất đai tại địa phương.

[2.2] Xét; khi chuyển mục đích sử dụng diện tích đất 198 m² sang đất thương mại, dịch vụ thì đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định là thuộc vị trí 4 và ông D đã đóng thuế theo vị trí 4, mặt khác trên thực tế thì phần đất này có 01 cạnh giáp đường bê tông 4m. Do đó, UBND huyện C áp dụng khoản 1 Điều 4 Quyết định số 38/2019/QĐ-UBND ngày 20-12-2019 của UBND tỉnh B để xác định lại đất của ông D thuộc vị trí 5 là không đúng.

Theo quy định tại Điều 1 của Quyết định số 1390/QĐ-UBND thì giá đất thương mại, dịch vụ vị trí 5 là 2.971.000đ/m², nhưng tại Quyết định số 1323/QĐ-UBND, UBND huyện C bồi thường cho ông D, bà T và ông T1, bà T2 198 m² đất thương mại, dịch vụ với đơn giá 1.962.982 đồng/m² là áp giá không đúng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận nội dung này của người khởi kiện là có căn cứ.

[3] Về bồi thường nhà ở và công trình trên đất:

[3.1] Ngày 22-5-2019, UBND huyện C có Văn bản số 1517/UBND-TNMT về việc cho phép bà Nguyễn Thanh T - Khu dân cư số 8 làm nhà kho với diện tích khoảng 10 m x 12 m = 120 m²; kết cấu kho tạm: khung cột sắt, mái vách lợp tôn; mục đích sử dụng: tạm chứa vật tư, dụng cụ, không sử dụng vào mục đích ở. Tuy nhiên, ông D và bà T đã làm thêm gác lửng sử dụng vào mục đích để ở là trái pháp luật, vì vậy Ủy ban nhân dân huyện C chỉ bồi thường cho ông D, bà T về vật kiến trúc (gồm trụ cổng, khung sắt, móng đá hộc, sân bê tông, chuồng gà, hàng rào) với số tiền là 157.562.100 đồng. Phần tài sản là nhà ở gồm: Nhà chính 02 tầng diện tích 224 m², nhà tạm 21 m², mái che tôn và hầm tự hoại không được bồi thường là đúng quy định của pháp luật đất đai.

[4] Về yêu cầu giao một lô đất ở mới:

[4.1] Xét ông T1, bà T2 và ông D, bà T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số C0 799219 và C0 799220 ngày 10-9-2018 với diện tích 527,4 m². Trong đó, diện tích 198 m² đất thương mại, dịch vụ có thời hạn sử dụng đến hết ngày 03-08-2068 và diện tích 329,4 m² đất nông nghiệp khác có thời hạn sử dụng đến tháng 10-1963. Như vậy, ông T1, bà T2 và ông D, bà T không bị thu hồi đất ở nên không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở và không đủ điều kiện hỗ trở tái định cư. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 79 Luật Đất đai năm 2013: “Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất”. Để buộc UBND huyện C giao một lô đất ở mới cho ông D bà T là không đúng pháp luật.

[5] Với các tài liệu chứng cứ nêu trên có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của người bị kiện là UBND huyện C. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần Bản án sơ thẩm.

[6] Án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên UBND huyện C không phải chịu tiền án phí phúc thẩm.

[7] Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 241, Điều 242 Luật tố tụng hành chính;

Chấp nhận một phần kháng cáo của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Sửa một phần Bản án hành chính sơ thẩm số 126/2023/HC-ST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Căn cứ Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Tấn D, bà Nguyễn Thanh T.
  2. Hủy mục 1.1 phần 1của Quyết định số 1323/QĐ-UBND ngày 31-8-2022 của Ủy ban nhân dân huyện C.
  3. Buộc Ủy ban nhân dân huyện C thực hiện nhiệm vụ, công vụ bồi thường đúng vị trí đất khi thu hồi đất của ông Đỗ Tấn D, bà Nguyễn Thanh T theo quy định của pháp luật.
  4. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Tấn D, bà Nguyễn Thanh T về việc hủy mục 2.1 phần 2 và mục 4.4 phần 4 Điều 1 của Quyết định số 1323/QĐ-UBND ngày 31-8-2022 của Ủy ban nhân dân huyện C.
  5. Về án phí hành chính phúc thẩm: Ủy ban nhân dân huyện C không phải chịu tiền án phí hành chính phúc thẩm. Cục Thi hành án dân sự thành phố tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hoàn trả cho Ủy ban nhân dân huyện C 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 0000541 ngày 07/11/2023.
  6. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Cục THADS tỉnh BR-VT;
  • - ĐS (4);
  • - Lưu VP(3), HS(2) 16b.NThuy.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Minh Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 389/2024/HC-PT ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

  • Số bản án: 389/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu. Sửa một phần Bản án hành chính sơ thẩm số 126/2023/HC-ST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger