Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 389/2023/HS-ST

Ngày: 18/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Công Huấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Văn Cảm
  2. Bà Phan Ngọc Huệ

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lưu Quốc Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Hoàng Huy Phương - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 18/8/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số A đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 520/2023/HSST ngày 11/7/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 3027/2023/QĐXXST-HS ngày 25/7/2023 đối với các bị cáo:

1.Họ và tên: Nguyễn Hoàng Nhất P; giới tính: nam; sinh ngày 27/3/2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 4 đường H, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: B đường X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: nhân viên giao hàng; con ông Nguyễn Thành C và bà Trương Ngọc L; chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 08/02/2023, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai khởi tố về tội “Cướp giật tài sản”; hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai;

Tạm giữ: 31/01/2023

Tạm giam: 03/02/2023;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2.Họ và tên: Nguyễn Văn T; giới tính: nam; sinh ngày 15/7/2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng thường trú: 11/4 (số mới là 118/36/11) đường B, Khu phố B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 00/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị L2; hoàn cảnh gia đình; chưa có vợ con;

Tiền án, tiền sự: không;

Tạm giữ: 30/01/2023;

Tạm giam: 03/02/2023;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quá trình điều tra vụ án “Cướp giật tài sản” ở huyện N, tỉnh Đồng Nai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai phát hiện bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất P có hành vi tàng trữ trái phép 01 khẩu súng ngắn màu đen, dài 22cm, hộp đạn kiểu ổ xoay không có đạn. P khai đã đưa khẩu súng vừa nêu cho Nguyễn Ngọc T1 cất giấu.

Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Ngọc T1 tại phòng trọ địa chỉ 9 đường B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh do anh Nguyễn Khoa Quốc  làm quản lý. Khi khám xét, T1 không có mặt tại phòng trọ và cũng không thu được súng. Tuy nhiên,  xác định sáng ngày 30/01/2023, có em họ của T1 là Nguyễn Văn T đến phòng trọ của T1 lấy một túi đồ bọc kín rồi mang đi.

Mở rộng điều tra, tiến hành làm việc với T thì T khai nhận rằng T1 có điện thoại nhờ T giúp cất giữ khẩu súng để tại phòng trọ của T1 nên sáng ngày 30/01/2023, T đến phòng trọ của T1 lấy khẩu súng mà T1 nhờ cất giấu, bỏ súng vào túi đồ bọc kín rồi mang đi cất giấu trong phòng của T tại nhà số A đường B, Khu phố B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện N đã khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn T tại địa chỉ vừa nêu và thu giữ được 01 khẩu súng ngắn màu đen, dài 22cm, hộp đạn kiểu ổ xoay không có đạn (bl.150, 151, 152, 153).

Kết luận giám định số 1161/KL-KTHS ngày 02/02/2023 của Phân Viện khoa học hình sự Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Khẩu súng ngắn màu đen, nhãn hiệu “WinGun”, dài khoảng 22cm, có hộp đạn kiểu ổ xoay 06 viên (trong hộp đạn không có đạn), mã số 21TH018206 “là súng đồ chơi nguy hiểm dạng ổ quay, đã được thay đổi kết cấu: ổ quay, cơ quan cò, kim hỏa, nòng súng để bắn được các loại đạn cỡ 9x22mm. Hiện tại, súng có đủ các bộ phận chính, lắp ráp đúng vị trí và bắn được đạn nổ. Khẩu súng nêu trên là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc nhóm vũ khí quân dụng; sử dụng khẩu súng ổ quay gửi giám định bắn với loại đạn 9x22mm trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong”.

Quá trình điều tra, P khai nhận: Vào đầu tháng 01/2023, P đặt mua khẩu súng đã nêu của một đối tượng không rõ lai lịch đăng tải thông tin rao bán trên internet với giá 3.000.000đ; mục đích mua để phòng thân. Sau khi mua, bị cáo P cất giấu súng trong ba-lô và để tại nhà số B đường X, Phường B, quận B được 04 ngày. Do không thường xuyên ở nhà nên P đã đem đến Quận G nhờ Nguyễn Ngọc T1 (bạn của P và là anh họ của Nguyễn Văn T) cất giữ.

Nguyễn Văn T khai: Sáng ngày 30/01/2023, T1 điện thoại nhờ T đến phòng trọ do T1 và H (bạn gái T1) thuê tại địa chỉ số I B, phường T, Quận G để lấy khẩu súng mà T1 cất giấu trong hộc bàn trang điểm mang đi cất giấu nơi khác vì T1 đang đi chơi ở Cà Mau. T điện thoại cho H để mở của phòng trọ nhưng do H đang ở quê nên H nói với T để H nhờ anh Nguyễn Khoa Quốc  (người quản lý nhà trọ) mở cửa cho T. Khi được anh  mở cửa vào phòng trọ của T1, T lấy khẩu súng trong ngăn bàn trang điểm, rồi bỏ vào trong túi bọc kín và mang về phòng trọ của T tại số A đường B, khu phố B, phường T, Quận G cất giấu. Đến chiều cùng ngày, Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai khám xét và thu giữ khẩu súng.

Kết quả điều tra, Nguyễn Hoàng Nhất P và Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập.

Đối với Nguyễn Ngọc T1: T1 đã có hành vi cất giữ súng cho P. Tuy nhiên, hiện tại T1 đi đâu không rõ, Cơ quan An ninh điều tra đã ra quyết định truy tìm. Khi nào có kết quả truy tìm sẽ xem xét xử lý sau.

Đối với Nguyễn Khoa Quốc  và Võ Thị Thúy H1: Cả hai đều không biết việc P và T cất giữ súng nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với người bán súng cho P: Là người không rõ lai lịch, P khai chỉ liên hệ với người này trên mạng intenet, P cũng không biết tên nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh, làm rõ để xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 358/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 05/7/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự).

Tại phiên tòa,

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội như sau:

Căn cứ lời khai của các bị cáo, kết quả giám định, các tài liệu, chứng cứ thu thập được, có đủ cơ sở để xác định truy tố của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử kết án các bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng.

Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự,

Xử phạt bị cáo P từ 02 đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Xử phạt bị cáo P1 từ 01 đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”

Tịch thu tiêu hủy vật chứng theo quy định

Các bị cáo không có ý kiến bào chữa mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, xử mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2]. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả giám định, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, có căn cứ để xác định:

Vào đầu tháng 01/2013, bị cáo P đã có hành vi mua và cất giữ một khẩu súng ngắn màu đen, nhãn hiệu “WinGun”, dài khoảng 22cm, có hộp đạn kiểu ổ xoay 06 viên (trong hộp đạn không có đạn), mã số 21TH018206. Theo kết quả giám định của cơ quan có thẩm quyền thì thì khẩu súng vừa nêu “là súng đồ chơi nguy hiểm dạng ổ quay, đã được thay đổi kết cấu; có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc nhóm vũ khí quân dụng”.

T là người đã có hành vi giúp P mang khẩu súng đã nêu từ phòng trọ ở địa chỉ 9 đường B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đến cất giấu tại nơi ở của T số 11/4 (số mới là 118/36/11) đường B, Khu phố B, phường T, Quận G.

[3]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn trật tự công cộng. Các bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai trái, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do thiếu ý thức tôn trọng luật pháp nên vẫn cố ý vi phạm.

[4]. Căn cứ vào các nhận định đã nêu, đối chiếu với các quy định của pháp luật, có đủ căn cứ kết luận các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.

[5].Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt cần áp dụng đối với các bị cáo:

Trong vụ án, P là người giữ vai trò chính, còn T là người giữ vai trò giúp sức cho P. Hành vi của P có mức độ nguy hiểm cao hơn so với T.

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; đặc điểm nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, cần áp dụng hình phạt tương xứng với các bị cáo để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6].Trong vụ án này, Nguyễn Ngọc T1 cũng là người cất giấu khẩu súng cho bị cáo P. Hành vi của T1 có dấu hiệu phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” nhưng T1 đã đi khỏi nơi cư trú. Cơ quan điều tra đang truy tìm và sẽ được xử lý sau.

[7]. Về các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng.

Căn cứ kết luận giám định thì khẩu súng mà các bị cáo tàng trữ là là súng đồ chơi nguy hiểm, có kết cấu, tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc nhóm vũ khí quân dụng. Đây là vật không được phép lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra còn khám xét chỗ ở của Nguyễn Ngọc T1 tại địa chỉ 9 đường B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và có thu giữ được tại đây 52 viên bi sắt (bl.49). Xét thấy, những vật vừa nêu là của T1, không liên quan đến tội phạm. Do vậy, cần giao trả lại cho Cơ quan điều tra để lưu giữ, xử lý theo quy định.

[8].Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2013.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2023
  3. Tịch thu tiêu hủy: 01 khẩu súng ngắn màu đen hiệu “WinGun” dài khoảng 22cm, có hộp đạn kiểu ổ xoay 06 viên mã số 21TH018206 (hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng tại Bộ tư lệnh Thành phố H, theo phiếu nhập kho số 21/2023.VC ngày 15/6/2023).
  4. Giao trả lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H 52 viên bi sắt (hiện đang được lưu giữ tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2023/365 ngày 11/7/2023)
  5. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND TC; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - Cục THADS TP.HCM; (1)
  • - Sở tư pháp TP.HCM; (1)
  • - Bị cáo; (2)
  • - Trại giam; (2)
  • - Đương sự; (0)
  • - THAHS TP.HCM; (1)
  • - Phòng PC53 - CA TP. HCM; (1)
  • - UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú; (2)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (20) (5)

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Công Huấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 389/2023/HS-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

  • Số bản án: 389/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng Nhất P và đồng phạm, phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger