|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 3886/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21-8-2024 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Bé
2. Ông Phạm Văn Tâm
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 842/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5830/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/7/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm 1985 ( có mặt)
Địa chỉ: E Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Hồ Quang T, sinh năm 1984 ( vắng mặt)
Địa chỉ: E Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN THẤY:
Trong đơn xin ly hôn ngày 04/3/2024 và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Tuyết H trình bày:
Bà và ông Hồ Quang T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2007, có đăng ký kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 100, quyển số 01/2007 ngày 20/6/2007. Cuộc sống chung có nhiều mâu thuẫn do ông T cờ bạc, gây nợ nần. Bà nhiều lần khuyên can thì ông T lại đánh đập bà. Bà dọn nhà đi ra ở riêng thì ông T năn nỉ, hứa sửa đổi nên bà có quay về chung sống vì các con nhưng và ông T chỉ sửa đổi được vài tháng thì tiếp tục cờ bạc, gây nợ nần khiến bà phải chịu đựng suốt 17 năm. Đến nay bà không thể chịu đựng được nên yêu cầu được ly hôn với ông T.
2
Về con chung: Bà và ông T có ba người con chung Hồ Nguyễn Tuyết A, sinh ngày 22/09/2007, Hồ Quang H1, sinh ngày 31/8/2014 và Hồ Nguyễn Nhã U, sinh ngày 25/12/2017. Ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng ba người con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Nợ chung: Không có.
Bị đơn là ông Hồ Quang T dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng cũng như không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa: Ông Hồ Quang T vắng mặt. Bà Nguyễn Thị Tuyết H giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn ông T; yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng ba người con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Không có. Nợ chung: Không có.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- - Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.
- - Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết H. Bà H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Tuyết H và ông Hồ Quang T đã được Ủy ban nhân dân phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 100, quyển số 01/2007 ngày 20/6/2007. Bà H yêu cầu ly hôn với lý do cuộc sống chung giữa hai vợ chồng không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn và ông Hồ Quang T cư trú tại phường P, thành phố T. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Hồ Quang T dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
3
[3] Về yêu cầu của đương sự:
[3.1] Theo lời khai của bà H thì vợ chồng bà tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2007, có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2007. Cuộc sống chung có nhiều mâu thuẫn do ông T cờ bạc, gây nợ nần, đánh đập bà H.
Ngày 11 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý vụ án hôn nhân gia đình do bà Nguyễn Thị Tuyết H là người khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Hồ Quang T. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật cho ông T đến Tòa án để ghi lời khai, hòa giải nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do, không có gởi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà H, điều đó chứng tỏ ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, chưa thực sự coi trọng tình nghĩa vợ chồng.
Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 qui định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau...”
Xét quá trình sống chung giữa đôi bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, không hòa thuận, không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc bà H yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông T là có cơ sở giải quyết.
[3.2] Về con chung: Xét cả ba người con chung Hồ Nguyễn Tuyết A, sinh ngày 22/09/2007, Hồ Quang H1, sinh ngày 31/8/2014 và Hồ Nguyễn Nhã U, sinh ngày 25/12/2017 đều có nguyện vọng được ở với bà H, ông T không có ý kiến gì đối với việc nuôi con chung nên để đảm bảo sự ổn định và phát triển bình thường cho các người con, Hội đồng xét xử giao 03 người con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.
[3.4] Về tài sản chung: Bà H khai không có tài sản chung. Ông T không có ý kiến về tài sản chung
[3.5] Về nợ chung: Bà H khai không có nợ chung. Ông T không có ý kiến về nợ chung.
[4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Nguyễn Thị Tuyết H phải nộp nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0026210 ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ những nhận định và phân tích trên, xét Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
4
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 83, 84, 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tuyết H được ly hôn ông Hồ Quang T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 100, quyển số 01/2007 ngày 20/6/2007 do Ủy ban nhân dân phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Thị Tuyết H và ông Hồ Quang T không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao 03 (ba) người con chung Hồ Nguyễn Tuyết A, sinh ngày 22/09/2007, Hồ Quang H1, sinh ngày 31/8/2014 và Hồ Nguyễn Nhã U, sinh ngày 25/12/2017 cho bà Nguyễn Thị Tuyết H trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận việc bà Nguyễn Thị Tuyết H không yêu cầu ông Hồ Quang T cấp dưỡng nuôi con chung.
Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
2. Về án phí: 300.000 đồng bà Nguyễn Thị Tuyết H phải nộp nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0026210 ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN |
|
Nguyễn Thị Phương Thảo |
5
Nơi nhận:
- - TAND TP. Hồ Chí Minh;
- - VKSND thành phố Thủ Đức;
- - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
- - UBND phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân;
- - Đương sự;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
6
Nguyễn Thị Phương Thảo
Bản án số 3886/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 3886/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà H y6eu cầu ly hôn ông T
