Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 388/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 26/12/2023

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi

con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Định

Ông Hoàng Sĩ Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 406/2023/HNGĐ-TLST ngày 05/10/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 429/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/11/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 315/2023/QĐ-ST ngày 08 tháng 12 năm 2023, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Đào Thị H, sinh ngày 01/02/1992.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương.

Hiện lao động tại: Đài Loan.

Người được chị H ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Ông Nguyễn Ngọc T.

Địa chỉ: Số A, đường N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn C, sinh ngày 07/10/1983.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương.

Hiện lao động tại: Đài Loan.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị B, SN 1952.

Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương.

(Chị H, anh C, bà B đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Đào Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh C tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương ngày 21/4/2010. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc. Năm 2017 chị và anh C đều sang Đài Loan lao động, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, đỉnh điểm là vào tháng 12/2022. Nguyên nhân do anh C ghen tuông, đánh đập và xúc phạm chị, hai bên không tìm được tiếng nói chung. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.

Về quan hệ con chung: Chị và anh C có 2 con chung là Phạm Văn K, sinh ngày 16/6/2009 và Phạm Văn K1, sinh ngày 01/4/2013. Hiện nay hai con đang ở với bà nội là bà Vũ Thị B. Ly hôn, để ổn định cuộc sống cho các con, chị đồng ý để anh C nuôi cả hai con. Chị tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con cùng anh C là 1.000.000đồng/1 con/1tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh C không có, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Anh Phạm Văn C hiện nay đang lao động tại Đài Loan, do chị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh C nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh C qua gia đình. Bà Vũ Thị B là mẹ đẻ anh C xác định, anh C đi Đài Loan lao động từ năm 2017, từ khi đi anh C về Việt Nam một lần. Địa chỉ của anh C ở nước ngoài bà không biết, nhưng anh C thường xuyên liên lạc về gia đình. Bà B đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh C biết. Thông qua gia đình cũng như tại buổi làm việc với Tòa án, anh C đã trực tiếp gọi điện thoại về và thể hiện quan điểm: Vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nay chị H có đơn ly hôn anh đồng ý. Về con chung anh có nguyện vọng được nuôi cả hai con, trong thời gian anh không có mặt tại Việt Nam, anh ủy quyền cho mẹ đẻ anh chăm sóc, nuôi dưỡng hai con. Anh đồng ý để chị H cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000đồng/1 con/1tháng. Về tài sản chung, nợ chung anh và chị H không có. Do điều kiện anh không thể về Việt Nam để giải quyết ly hôn, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Anh ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Vũ Thị B thay anh nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị B trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh C, hiện nay bà đang chăm sóc cháu Phạm Văn K1 và Phạm Văn K là con của anh C, chị H. Bà đồng ý nhận ủy quyền của anh C chăm sóc hai cháu trong thời gian anh C không có mặt ở Việt Nam.

- Cháu Phạm Văn K1 và cháu Phạm Văn K có quan điểm được ở với bố và bà nội khi bố mẹ ly hôn.

Do điều kiện công việc nên chị H không thể về Việt Nam để giải quyết ly hôn, chị ủy quyền cho anh Nguyễn Ngọc T giao, nhận các văn bản tại Tòa án. Anh T có quan điểm đồng ý nhận ủy quyền của chị H. Sau khi nhận thông báo thụ lý vụ án, anh T đã thông tin cho chị H biết, chị H vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị H được ly hôn anh C. Về con chung: Giao con chung Phạm Văn K, sinh ngày 16/6/2009 và Phạm Văn K1, sinh ngày 01/4/2013 cho anh Phạm Văn C chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh C không ở Việt Nam, tạm giao cháu K và cháu K1 cho bà Vũ Thị B chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh C là 1.000.000đồng/1 con/1 tháng. Về án phí: Chị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Đào Thị H và anh Phạm Văn C đều có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại: thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương. Hiện anh C, chị H đang lao động tại Đài Loan. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Tài liệu chị H gửi về Tòa án bao gồm: Đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt đều được xác nhận của Văn phòng K2 tại Đ. Do vậy, có căn cứ xác định nội dung các văn bản này thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của chị H.

Quá trình giải quyết vụ án, chị H không cung cấp được địa chỉ của anh C tại Đài Loan. Theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh C cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình anh C được biết, anh C thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ là bà Vũ Thị B. Bà B đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh C biết. Tòa án cũng đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Do vậy áp dụng công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.

Anh C ủy quyền cho bà Vũ Thị B chăm sóc nuôi dưỡng cháu K, cháu K1 trong thời gian anh không ở Việt Nam nên Tòa án xác định bà B là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Chị H, anh C, bà B đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị H và anh Phạm Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương ngày 21/4/2010, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Năm 2017 chị H và anh C đều đi Đài Loan lao động, do hai bên không tin tưởng nhau dẫn đến không tìm được tiếng nói chung. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh C. Quá trình giải quyết vụ án, anh C cũng có quan điểm xác định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, chị H có đơn ly hôn anh đồng ý. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị H và anh C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

- Về quan hệ con chung: Chị Đào Thị H và anh Phạm Văn C có hai con chung là Phạm Văn K, sinh ngày 16/6/2009 và Phạm Văn K1, sinh ngày 01/4/2013. Hiện nay, cháu K1 và cháu K đang sinh sống cùng bà nội. Ly hôn chị H có quan điểm để anh C nuôi hai con, anh C cũng đồng ý. Xét thấy, thực tế anh C, chị H đều ở nước ngoài, cháu K và cháu K1 hiện đang được bà nội chăm sóc, nuôi dưỡng, các cháu cũng có nguyện vọng được ở với bố và bà nội khi bố mẹ ly hôn. Do vậy có căn cứ chấp nhận thỏa thuận của các đương sự, tiếp tục giao cháu K, cháu K1 cho anh C nuôi dưỡng. Trong thời gian anh C không ở Việt Nam, tạm giao cháu K, cháu K1 cho bà B chăm sóc nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H cấp dưỡng tiền nuôi con cùng anh C là 1.000.000đồng/1 con/1 tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đào Thị H và anh Phạm Văn C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3].Về án phí: Chị Đào Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị H được ly hôn anh Phạm Văn C.

2. Về quan hệ con chung: Giao con Phạm Văn K, sinh ngày 16/6/2009 và Phạm Văn K1, sinh ngày 01/4/2013 cho anh Phạm Văn C chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con tròn 18 tuổi. Trong thời gian anh C không ở Việt Nam, tạm giao cháu K, cháu K1 cho bà Vũ Thị B chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H cấp dưỡng tiền nuôi con cùng anh C là 1.000.000đồng/1con/1 tháng, thời hạn kể từ tháng 01/2024 cho đến khi cháu K1, cháu K tròn 18 tuổi.

Chị Đào Thị H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Kể từ khi anh C có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con mà chị H không thi hành khoản tiền trên, thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của bộ luật dân sự.

3. Về án phí: Chị Đào Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2023/0001159 ngày 05 tháng 10 năm 2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị H còn phải nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng tiền nuôi con.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Đào Thị H và anh Phạm Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Bà Vũ Thị B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Long Xuyên;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 388/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 388/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger