Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 388/2024/HS-ST

Ngày: 29 – 11 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Bạn
  2. Ông Bùi Ngọc Thảo

– Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – C/v Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 391/2024/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 399/2024/QĐXXST–HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên Nguyễn Thành T

Sinh ngày 25 tháng 5 năm 2004; Tại: Đắk Lắk; Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở trước khi phạm tội: 92/113 Nguyễn Xuân N, TDP G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thành V và con bà Nguyễn Thị Tuyết M. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt từ ngày 10/9/2024, chuyển sang tạm giữ, tạm giam. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố B, hiện đang giam – Có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Quốc T1
  2. Địa chỉ: 337/10/8 V, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

  3. Ông H Cao Cường
  4. Địa chỉ: số nhà D, thôn B, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

  5. Ông Phạm Đình B
  6. Địa chỉ: F N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt).

  7. Bà H'Nhi Ê Ban sinh năm 2005
  8. Địa chỉ: Tổ A, khối F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).

  9. Bà Phan Thị Thanh
  10. Địa chỉ: Thôn B, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thành T là người sử dụng trái phép chất ma tuý loại Methamphetamine và chất thảo mộc khô tẩm ướp ma tuý được quấn trong gói giấy hình trụ (dạng điếu thuốc lá), tên thường gọi là ma tuý D. Do không có nghề nghiệp ổn định, cần tiền tiêu xài cá nhân và có ma tuý để sử dụng nên vào ngày 09/9/2024, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu REDMI màu đen gắn sim số thuê bao 0818219813 đăng nhập vào tài khoản FaceBook tên “Thành Kiệt” liên hệ với tài khoản FaceBook tên “D1” của một người nam giới (chưa xác định nhân thân, lai lịch) đặt mua 20 (hai mươi) điếu ma tuý Dominic với số tiền 1.800.000đ (Một triệu tám trăm ngàn đồng) với mục đích sử dụng và bán kiếm tiền lời. Khoảng 08 giờ ngày 09/9/2024, người nam giới sử dụng tài khoản FaceBook tên “D2” liên lạc vào tài khoản FaceBook tên “Thành Kiệt” yêu cầu T để tiền mua ma tuý tại gốc cây ven đường T, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. T đón xe ôm (chưa xác định nhân thân, lai lịch) đến, để số tiền 1.800.000đ (Một triệu tám trăm ngàn đồng) tại địa điểm trên.

Khoảng 30 phút sau, người này tiếp tục liên lạc cho T đến lấy 20 (hai mươi) điếu ma tuý Dominic để ở gốc cây nơi T để tiền trước đó. T đến lấy ma tuý mang về chỗ ở tại địa chỉ 9 N, tổ dân phố G, phường T, Tp., tỉnh Đắk Lắk sử dụng hết 19 (mười chín) điếu. Đến khoảng 14 giờ 39 phút ngày 10/9/2024, Nguyễn Quốc T1, sinh năm 2000, trú tại thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng và Hoàng Cao C1, sinh năm 1996, trú tại thôn B, xã H, Tp ., tỉnh Đắk Lắk rủ nhau góp tiền mua ma tuý D về sử dụng. Sau đó, T1 sử dụng điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đen gắn sim số thuê bao 0396020571 gọi vào số thuê bao 0818.219.813 của T hỏi mua 01 (một) điếu ma tuý Dominic. T đồng ý bán ma tuý D cho T1 với số tiền 130.000đ (Một trăm ba mươi ngàn đồng) và hẹn đến địa chỉ 92/113 Nguyễn Xuân N, tổ dân phố G, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk để bán ma túy. Đến 15 giờ 04 phút cùng ngày 10/9/2024, C1 điều khiển xe môtô biển kiểm soát 47B2– 542.24 chở T1 đến địa điểm đã hẹn để mua ma tuý. Khi T chuẩn bị bán ma tuý Dominic cho T1 thì Công an Phường T phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thành T về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, tạm giữ vật chứng của vụ án.

Tiến hành đưa các đối tượng đi xét nghiệm chất ma tuý tại Bệnh viện Đ, kết quả: Nguyễn Thành T, Nguyễn Quốc T1, dương tính với chất ma tuý loại Methamphetamine và A; Hoàng Cao Cường dương T2 với chất ma tuý loại Marijuana..

Tại Bản kết luận giám định số: 7075/KL–KTHS ngày 26 tháng 9 năm 2024 của V1 –Bộ C2 kết luận (Bút lục số 30):

Tìm thấy chất ma túy MDMD-4en–PINACA trong mẫu thảo mộc khô giửi giám định; khối lượng mẫu: 0,799gam; khối lượng MDMD-4en–PINACA là 0,0007gam.

H1 lại đối tượng giám định:

Mẫu giám định đã phân tích hết; Đầu lọc, vỏ bao gói mẫu hoàn lại .

Tại bản cáo trạng số: 384/CT-VKS-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa và quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

– Tịch thu tiêu hủy toàn bộ bao gói còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 7075/KL–KTHS ngày 26 tháng 9 năm 2024 của V1 –Bộ C2.

– Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu REDMI màu đen, số Imeil 861043074027168, gắn sim số điện thoại 0818.219.xxx đã qua sử dụng của Nguyễn Thành T sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.

– Đối với 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu đen có số điện thoại 0396.020.xxx cho Nguyễn Quốc T1, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 383 ngày 01/11/2024 trả lại cho Nguyễn Quốc T1 là phù hợp.

– Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu HonDa Vison, màu sơn Đỏ nâu đen, biển kiểm soát 47B2– 542.24, số khung RLHJF5839KY506221, số máy JF86E0206165, loại xe hai bánh từ 50 –175cm³, dung tích xi lanh 108,2cm³ đứng tên chủ sở hữu bà Phan Thị T3, sinh năm 1969, trú tại thôn B, xã H, Tp tỉnh Đắk Lắk (là mẹ của Hoàng Cao C1). Quá trình điều tra xác định vào ngày 10/9/2024, C1 mượn xe môtô trên của bà T3 để đi công việc. Sau đó, C1 đã sử dụng chở Nguyễn Quốc T1 đi mua ma tuý, bà T3 không biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 383 ngày 01/11/2024 trả lại cho bà Phan Thị T3, sinh năm 1969, trú tại thôn B, xã H, Tp ., tỉnh Đắk Lắk là phù hợp.

Bị cáo Nguyễn Thành T không bào chữa và tranh luận gì. Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thành T tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận: Vào ngày 10/9/2024 tại trước số nhà I N, tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Thành T có hành vi bán trái phép 0,799gam chất thảo mộc khô được phun tẩm 0,0007gam chất ma túy loại MDMD-4en–PINACA cho Nguyễn Quốc T1 nhằm thu lợi bất chính số tiền 130.000 đồng (một trăm ba mươi nghìn đồng) nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt quả tang và tạm giữ cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thành T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định:

  1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, bị cáo Nguyễn Thành T là công dân có đủ khả năng để nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân trong cuộc sống, bị cáo phải biết được rằng ma túy là chất gây nghiện thuộc sự quản lý độc quyền của nhà nước, mọi hành vi mua bán trái phép chất ma túy đều bị trừng trị nghiêm khắc. Song do ý thức coi thường pháp luật, động cơ thu lợi bất chính, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

[4] Xét về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Xét thấy tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo trong quá trình lượng hình.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, sống biết tôn trọng pháp luật và nhằm răn đe phòng ngừa chung trong đấu tranh phòng chống tội phạm.

[5] Đối với Hoàng Cao C1 và Nguyễn Quốc T1 có hành vi mua trái phép chất ma tuý nhưng chưa kịp thực hiện thì bị phát hiện nên không có căn cứ xử lý về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, các đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Công an T đã lập biên bản vi phạm hành chính và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với Nguyễn Thành T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Công an T đã lập biên bản vi phạm hành chính và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp.

Đối với đối tượng nam giới có sử dụng tài khoản Face Book tên “D1” bán ma tuý cho bị cáo. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra tách hành vi của các đối tượng này ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với ông Phan Đình B1, sinh năm 1946, trú tại tổ dân phố F, phường T, Tp., tỉnh Đắk Lắk, chủ sở hữu của căn nhà tại địa chỉ 9 N, tổ dân phố G, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Vào tháng 8/2024, ông B2 cho Chị H Nhi Êban, sinh năm 2005, trú tại tổ dân phố F, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk, (là vợ của bị cáo Nguyễn Thành T) thuê căn nhà trên. Ông B1 và chị H Nhi Ê1 không biết bị cáo Nguyễn Thành T có hành vi cất giấu, mua bán và sử dụng trái phép chất ma tuý tại đây nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý.

[6] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ bao gói còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 7075/KL–KTHS ngày 26 tháng 9 năm 2024 của V1 –Bộ C2.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu REDMI màu đen, số Imeil 861043074027168, gắn sim số điện thoại 0818.219.xxx đã qua sử dụng của Nguyễn Thành T sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.

Đối với 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu đen có số điện thoại 0396.020.xxx cho Nguyễn Quốc T1, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 383 ngày 01/11/2024 trả lại cho Nguyễn Quốc T1 là phù hợp.

Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu HonDa Vison, màu sơn Đỏ nâu đen, biển kiểm soát 47B2–542.24, số khung RLHJF5839KY506221, số máy JF86E0206165, loại xe hai bánh từ 50 –175cm³, dung tích xi lanh 108,2cm³ đứng tên chủ sở hữu bà Phan Thị T3, sinh năm 1969, trú tại thôn B, xã H, Tp tỉnh Đắk Lắk (là mẹ của Hoàng Cao C1). Quá trình điều tra xác định vào ngày 10/9/2024, C1 mượn xe môtô trên của bà T3 để đi công việc. Sau đó, C1 đã sử dụng chở Nguyễn Quốc T1 đi mua ma tuý, bà T3 không biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 383 ngày 01/11/2024 trả lại cho bà Phan Thị T3, sinh năm 1969, trú tại thôn B, xã H, Tp ., tỉnh Đắk Lắk là phù hợp.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt (ngày 10/9/2024).

* Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

– Tịch thu tiêu hủy toàn bộ bao gói còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 7075/KL–KTHS ngày 26 tháng 9 năm 2024 của V1 –Bộ C2.

– Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu REDMI màu đen, số Imeil 861043074027168, gắn sim số điện thoại 0818.219.xxx đã qua sử dụng của Nguyễn Thành T sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.

– Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B trao trả cho Nguyễn Quốc T1 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu đen có số điện thoại 0396.020.xxx, không liên quan đến hành vi phạm tội.

– Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B trao trả cho bà Phan Thị T3 01 xe môtô nhãn hiệu HonDa Vison, màu sơn Đỏ nâu đen, biển kiểm soát 47B2–542.24, số khung RLHJF5839KY506221, số máy JF86E0206165, loại xe hai bánh từ 50 –175cm³, dung tích xi lanh 108,2cm³.

(Hiện vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, đặc điểm cụ thể theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lưu tại hồ sơ vụ án).

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thành T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • – P.NV&THA TAND tỉnh; VKSND tỉnh;
  • – VKSND TP. BMT; Công an TP. BMT;
  • – CCTHA DSTP, THA phạt tù (để thi hành);
  • – Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • – Chánh án
  • – Bị cáo, các đương sự;
  • – Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Kim Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 388/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 388/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger