|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 387/2024/HS-PT Ngày: 22 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trí
Các Thẩm phán: Ông Trần Tiến Nghĩa
Ông Nguyễn Xuân Quang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Trìu A Sám - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 74/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ, do có kháng nghị đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo bị kháng nghị:
Nguyễn Thành Đ (tên gọi khác: Chín Mười N); sinh năm 1983, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi đăng ký thường trú (chỗ ở): Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn N1 (chết) và mẹ bà Võ Thị C; Bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Tuyết S, sinh năm 1980 và có 01 con sinh năm 2005;
Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 10/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 27/01/2022 chấp hành xong hình phạt tù nhưng đến nay chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm.
Nhân thân: Ngày 24/01/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đến ngày 27/02/2017, Đ chấp hành xong bản án; Ngày 14/10/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch ra quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc trong thời gian 22 tháng.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh Đ (có mặt).
- Bị hại: Bà Phan Thị O, sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ G, khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 30 phút, ngày 20/6/2022, Nguyễn Thành Đ đi bộ đến khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai để tìm kiếm tài sản của người dân để trộm cắp tài sản. Khi Đ đi đến nhà bà Phan Thị O (bà O bị cụt chân bên phải từ đầu gối trở xuống do bị tai nạn giao thông, phải sử dụng chân giả để đi lại). Đ nhìn qua cửa cổng bằng sắt màu đen thì thấy trong sân nhà dựng 01 chiếc xe mô tô Vison, màu xám, nhãn hiệu Honda, biển số 60C2-356.05, nhưng không có ai trông coi. Đ lén lút mở cửa cổng và đi bộ đến chiếc xe mô tô trên thì thấy chìa khoá gắn trên ổ khoá, xe không khoá cổ nên Đ lén lút quay đầu xe để dẫn xe ra khỏi nhà. Bà O đang nằm võng trong góc sân (cách vị trí xe Vison, màu xám, nhãn hiệu Honda, biển số 60C2-356.05 khoảng 03 mét) phát hiện Đ quay đầu xe nên hỏi “chú đi đâu vậy, chú kiếm ai mà lấy xe của tôi”, lúc này bị cáo Đ mới phát hiện bà O có trong nhà và nói với bà O: “cho con mượn xe, công an đang dí con”, Đ tiếp tục dẫn xe Vison trên đi ra khỏi nhà bà O và nổ máy bỏ chạy, bị cáo không để ý bà O có bị khuyết tật hay không, không quen biết gì với bà O, bị cáo không cầm hung khí hay có hành động gì uy hiếp gì với bị hại. Bà O thấy bị cáo nổ máy xe bỏ chạy thì tri hô “cướp, cướp” và được người dân đi đường đuổi theo nhưng không bắt được Đ. Sau đó, Đ điều khiển xe đến địa bàn xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai do bị mệt nên bị cáo ngủ tại nhà văn hoá ở xã P, sau khi ngủ dậy thì phát hiện chiếc xe mô tô trên bị mất trộm. Đ đã đến Công an xã P trình báo sự việc và khai nhận hành vi trộm cắp chiếc xe nêu trên tại thị trấn H, huyện N. Công an xã P, huyện Đ đã thông báo cho Công an thị trấn H, huyện N về vụ việc. Công an thị trấn H lập hồ sơ ban đầu và chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N để điều tra theo thẩm quyền.
Về vật chứng đã thu giữ: không có.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N có văn bản yêu cầu định giá tài sản. Tại kết luận định giá tài sản số: 70/KLĐG-HĐĐG ngày 04/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện N kết luận: 01 chiếc xe mô tô Vison, màu xám, nhãn hiệu Honda, biển số 60C2-356.05, giá trị sử dụng còn lại 20%, có trị giá tài sản là 7.200.000 (bảy triệu hai trăm nghìn) đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Hiện không thu hồi được đối với 01 xe máy hiệu Honda Vison, màu xám, BKS: 60C2-356.05 nên bà Phan Thị O yêu cầu Đ bồi thường số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng, đến nay bị cáo Đ chưa bồi thường cho bà O.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch đã áp dụng Điều 38; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ: 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 21/6/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Thành Đ phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại bà Phan Thị O số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
3. Kháng nghị: Ngày 30/01/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 64/QĐ-VKSNT kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch cho rằng hành vi của bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội cướp tài sản theo quy định tại điểm e, khoản 2, Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên đề nghị sửa tội danh và tăng hình phạt đối với bị cáo Đ.
4. Quan điểm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai giữ nguyên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch về tội danh đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ là phạm tội “Cướp tài sản”. Tuy nhiên, qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cũng như phần xét hỏi tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai nhận thấy: Hành vi của bị cáo có dấu hiệu của sự công khai, khi bị cáo Đ mở cửa cổng đi vào sân và quay đầu xe thì bà O ngồi trên võng, trong góc sân nhà hỏi “chú đi đâu, chú kiếm ai, chú làm gì mà lấy xe tôi” thể hiện bị cáo mới tiếp cận được tài sản, chưa dịch chuyển tài sản, tài sản vẫn đang trong tầm kiểm soát của chủ sở hữu là bà O. Lúc này bị cáo Đ mới biết bà O và nói: “cho con mượn xe, công an đang dí con” rồi bị cáo nhanh chóng đẩy xe ra ngoài, bật chìa khóa nổ chạy, bị cáo không để ý bà O có bị khuyết tật hay không và không quen biết với bị hại O, bị cáo không cầm hung khí, không có lời nói hay hành động gì uy hiếp bị hại thể hiện là sau khi bị bà O phát hiện, bị cáo đã nhanh chóng chiếm bằng được tài sản rồi tẩu thoát, bị cáo Đ xác nhận không dùng lời nói nào đe dọa bị hại O. Tại lời khai của bà Phan Thị O xác định: Khi bị cáo Đ mở cửa đi vào thì bà ngồi dậy và hỏi “chú đi đâu vậy, chú kiếm ai” Đ không nói gì mà nhìn bà O, sau đó đi thẳng đến vị trí dựng xe cầm 02 tay quay đầu xe thì bà tiếp tục hỏi "chú làm gì lấy xe tôi”, bị cáo Đ trả lời “mày la tao đâm chết mày à”, Đ không cầm vật dụng gì và cũng không tấn công bị hại nhưng do bị hại O sợ không dám nhìn thẳng vào mặt Đ, bị hại lúc này đã tháo chân giả ngồi trên võng, do bị cáo Đ đe dọa nên sợ không dám la lên vì sợ Đ tấn công sẽ không có ai bảo vệ cho bị hại vì lúc trưa, vắng vẻ người nên bà O sợ không dám cử động, Đ tiếp tục đẩy bộ xe ra cổng nổ máy xe chạy, do lúc này bà O mới gắn chân giả và la to “cướp, cướp”.
Như vậy, giữa lời khai bị cáo và bị hại cùng có nội dung thống nhất là khi bị cáo quay đầu xe, thì bị hại hỏi bị cáo: Chú làm gì mà lấy xe tôi? Bị cáo Đ tiếp tục đẩy chiếc xe mô tô ra khỏi sân nhà bà O và nổ máy bỏ chạy. Qua đó thể hiện hành vi của Đ công khai chiếm đoạt và nhanh chóng tẩu thoát. Ban đầu bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là có sự lén lút, nhưng khi đang thực hiện hành vi trộm cắp thì bị phát hiện, bị cáo vẫn chưa chiếm đoạt được tài sản, chưa mang tài sản ra khỏi nơi bảo quản (lúc này xe mô tô đang còn trong sân nhà bà O vẫn nằm trong khu vực quản lý, bảo quản của bà O). Mặc khác, khi bị phát hiện bị cáo vẫn công khai ngang nhiên chiếm đoạt xe mô tô và nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi của bị cáo đã chuyển hóa từ tội “Trộm cắp tài sản” sang tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng nghị trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Theo kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm e, khoản 2, Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai vẫn giữ nguyên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch. Tuy nhiên, theo đại diện Viện kiểm sát thì hành vi của bị cáo Đ có dấu hiệu của tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Điều 171 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Qua các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy về tội danh như sau:
Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Thành Đ trong cả quá trình điều tra và tại phiên tòa phúc thẩm đều thể hiện bị cáo Đ không có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, bị cáo cũng không có hành vi khác làm cho bị hại bà Phan Thị O lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt chiếc xe mô tô Vison, màu xám, nhãn hiệu Honda, biển số 60C2-356.05 của bà Phan Thị O (BL 77 đến 82, BL 84 -90-91-159-167-189-229).
Lời khai của bị hại bà Phan Thị B Oảnh: “Khi tôi đang nằm võng thì phát hiện Đ đẩy cửa cổng đi thẳng vào chiếc xe máy Vision, BKS: 60C2-365.05 của tôi đang dựng trong sân nhà. Tôi hỏi Đ: Chú đi đâu vậy? chú kiếm ai?”; “Chú làm gì mà lấy xe tôi?” thì Đ trả lời “Mày la tao đâm mày chết à”, lúc này Đ không cầm vật dụng hay hung khí gì mà cũng không tấn công tôi” (BL 82-85-86, BL 88 đến 91,163-164,189).
Như vậy, ngoài lời khai của bị hại bà O thì tại hồ sơ không còn tài liệu, chứng cứ nào khác liên quan đến diễn biến tại thời điểm xảy ra vụ án. Bị cáo Đ không thừa nhận đối với lời khai của bà O cho rằng bị cáo có lời lẽ đe dọa bà. Do đó, không có căn cứ để xác định bị cáo đã có hành vi đe dọa dùng vũ lực đối với bị hại.
Đối với nội dung lời khai của bị cáo và bị hại cùng thống nhất việc bà O có hỏi bị cáo “Chú làm gì mà lấy xe tôi?”. Thời điểm này, bị cáo Đ không cầm vật dụng hay hung khí gì, cũng không tấn công bà O, không có hành vi giằng co giành giật tài sản, bị cáo đã quay đầu chiếc xe Vision, BKS: 60C2-365.05. Qua đó đã thể hiện bị cáo đã chiếm đoạt được tài sản của bị hại và đang trong quá trình tẩu thoát. Như vậy, xét hành vi của bị cáo Nguyễn Thành Đ là cả một quá trình từ lúc lợi dụng sơ hở của bị hại trong quản lý tài sản bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi đến khi tiếp cận được tài sản thì bị cáo nhanh chóng kết thúc hành vi để nhằm mục đích cuối cùng là chiếm đoạt được chiếc xe mô tô Vison, màu xám, nhãn hiệu Honda, biển số 60C2-356.05 của bà O, giá trị sử dụng còn lại 20%, có trị giá tài sản là 7.200.000 (bảy triệu hai trăm nghìn) đồng.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Với hành vi phạm tội nêu trên, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo với mức án là tương xứng với hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Từ những phân tích cho thấy, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm là không có căn cứ nên không chấp nhận.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thành Đ không phải chịu theo luật định.
[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên vẫn giữ nguyên.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
1. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 64/QĐ-VKSNT ngày 30/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 15/2024/HSST ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, k khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 21/6/2023.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Ngọc Trí |
Bản án số 387/2024/HS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 387/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 64/QĐ-VKSNT ngày 30/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 15/2024/HSST ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đức 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 21/6/2023.
