Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 387/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 25/12/2023

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi

con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Định
  • Ông Hoàng Sĩ Quang
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 407/2023/HNGĐ-TLST ngày 05/10/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 437/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/11/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 314/2023/QĐ-ST ngày 08 tháng 12 năm 2023, giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh ngày 11/06/1986.

    HKTT: Khu P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

    Hiện ở: Chợ Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

  2. Bị đơn : Anh Trần Đình T, sinh ngày 29/3/1983.

    Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

    Hiện lao động tại: Hàn Quốc.

( Chị D, anh T đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân : Chị và anh Trần Đình T tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 09/11/2003. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Năm 2008 và năm 2013 anh T đi lao động tại Đài Loan và Hàn Quốc. Trong thời gian này anh có về Việt Nam thăm gia đình vào năm 2015, vợ chồng sinh thêm con chung là Trần Đình Đức A. Sau đó anh T tiếp tục sang Hàn Quốc lao động. Do vợ chồng sống xa nhau, hai bên thiếu sự quan tâm chia sẻ, thiếu sự tin tưởng dẫn đến bất đồng quan điểm. Nay chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về quan hệ con chung : Chị và anh T có 02 con chung là Trần Thị Thu H, sinh ngày 29/11/2004 và Trần Đình Đức A, sinh ngày 22/10/2016. Hiện nay cháu H đã trưởng thành, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Cháu Đức A đang ở với chị, ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh T không có, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Anh Trần Đình T hiện nay đang lao động tại Hàn Quốc, do chị D không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh T nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh T qua gia đình. Cháu Trần Thị Thu H là con gái của anh T xác định, bố cháu đi Hàn Quốc lao động từ năm 2011, từ khi đi bố cháu về Việt Nam một lần, địa chỉ của bố cháu ở nước ngoài hiện gia đình cháu không biết, nhưng bố cháu vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình bằng điện thoại. Cháu H đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho bố biết. Thông qua gia đình cũng như tại buổi làm việc với Tòa án, anh T đã trực tiếp gọi điện thoại về và thể hiện quan điểm: Vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nay chị D có đơn ly hôn anh đồng ý. Về con chung anh đồng ý để chị D nuôi con chung là Trần Đình Đức A.Về tài sản chung, nợ chung không có, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Do điều kiện anh không thể Việt Nam để giải quyết ly hôn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh. Anh ủy quyền cho con gái là Trần Thị Thu H nhận thay anh các văn bản tố tụng của Tòa án.

- Cháu Trần Đình Đức A là con chung của chị D, anh T có quan điểm được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị D và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị D được ly hôn anh T. Về con chung: Giao con chung Trần Đình Đức A, sinh ngày 22/10/2016 cho chị Nguyễn Thị D nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tiền nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Do các bên không đề nghị, nên không xem xét. Về án phí: Chị D phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị D và anh Trần Đình T đều có Hộ khẩu thường trú tại: Khu P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Hiện anh T đang lao động tại Hàn Quốc. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Quá trình giải quyết vụ án, chị D không cung cấp được địa chỉ của anh T tại Hàn Quốc. Theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh T cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình anh T được biết, anh T thường xuyên liên lạc với con gái là Trần Thị Thu H. Cháu H đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh T biết. Tòa án cũng đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Do vậy áp dụng công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.

Chị D, anh T đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Trần Đình T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 09/11/2003, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên do từ năm 2008 anh T đi lao động ở nước ngoài nên vợ chồng ít có thời gian chung sống cùng nhau, dẫn đến bất đồng quan điểm. Vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc với nhau. Nay chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh T. Quá trình giải quyết vụ án, anh T cũng có quan điểm xác định vợ chồng sống xa nhau nên xảy ra mâu thuẫn, chị D có đơn ly hôn anh đồng ý. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị D và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Trần Đình T có hai con chung là Trần Thị Thu H, sinh ngày 29/11/2004 và Trần Đình Đức A, sinh ngày 22/10/2016. Hiện nay cháu H đã trưởng thành nên chị D không đề nghị xem xét, do cháu Đức A hiện đang ở với chị nên ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con. Thông qua gia đình anh T cũng có quan điểm đồng ý để chị D nuôi cháu Đức A. Xét thấy, hiện tại anh T đang ở nước ngoài, không có điều kiện trực tiếp nuôi con, cháu Đức A từ nhỏ được mẹ chăm sóc, phát triển tốt. Do đó cần tiếp tục giao cháu Đức A cho chị D nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế và đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Chấp nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3].Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Trần Đình T.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con Trần Đình Đức A, sinh ngày 22/10/2016 cho chị Nguyễn Thị D chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

    Anh Trần Đình T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2023/0001160 ngày 05 tháng 10 năm 2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị D đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Anh Trần Đình T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND thị trấn Thanh Miện;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 387/2023/HNGĐ-ST ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 387/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger