Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 387/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 18 - 9 - 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Bùi Thị Hoa
  • 2. Ông Mai Xuân Thường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: không tham gia phiên tòa.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại: trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 336/2024/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 301/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985;

Hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước. Hiện đang ở U.

Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Đoàn Hồng H, sinh năm: 1990; Địa chỉ: khu dân cư K, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương (Ủy quyền nhận, giao nộp văn bản, tài liệu).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Anh Đặng Thái L; sinh năm: 1985; Địa chỉ: khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đăng T1, sinh năm 1982;

Hộ khẩu thường trú trước xuất cảnh: Thôn E, xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; hiện đang ở Liên bang N.

Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong "Đơn khởi kiện" ngày 28/6/2024, bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, giấy ủy quyền, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đăng T1 kết hôn trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Đ tại U vào ngày 28/12/2015. Sau khi kết hôn, chị và anh T1 về chung sống cùng nhau ở tại U. Trong thời gian chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, chủ yếu mâu thuẫn về tính cách lối sống cũng như trong việc làm ăn, phát triển kinh tế trong gia đình. Vợ chồng không biết bảo vệ nhau khiến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt. Bố mẹ hai bên cũng đã khuyên nhủ, hoà giải nhưng mâu thuẫn ngày càng nhiều và trầm trọng hơn. Đến năm 2017, anh T1 về Việt Nam và lại đi xuất khẩu lao động tại Liên bang N, thi thoảng có về Việt Nam chơi nghỉ phép. Từ đó đến nay hai vợ chồng hầu như không còn liên lạc với nhau, sống ly thân mỗi người một nước. Nay, chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài, chị T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đăng T1.

Về con chung: Chị T và anh Nguyễn Đăng T1 có hai con chung là cháu Nguyễn Minh Bảo N, sinh ngày 06/4/2007 và Nguyễn Ngọc Minh C, sinh ngày 30/8/2010. Hiện con chung đang ở với chị T. Ly hôn chị Tình yêu C1 được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Nguyễn Thị T đang cư trú tại U nên chị không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị ủy quyền cho anh Đoàn Hồng H nộp đơn khởi kiện ly hôn, tài liệu, tạm ứng án phí và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, chị đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt.

Theo bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Đăng T1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh thừa nhận thời gian, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng như chị Nguyễn Thị T trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, anh T1 về Việt Nam rồi đi xuất khẩu lao động tại Liên bang N, nay anh về phép được biết chị T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị T có hai con chung là Nguyễn Minh Bảo N, sinh ngày 06/4/2007 và Nguyễn Ngọc Minh C, sinh ngày 30/8/2010, hiện đang học tập và sinh sống cùng chị T tại U. Anh T1 đồng ý giao các con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Anh T1 thống nhất với chị T, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Đăng T1 về Việt Nam được một thời gian ngắn nay anh sang Liên bang N1 tiếp tục làm ăn nên anh xin vắng mặt trong quá trình Toà án giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 28 tháng 6 năm 2024, chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện gửi tới Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Nguyễn Đăng T1. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì chị T hiện nay đang cư trú tại U, còn anh T1 hiện nay đang cư trú Liên bang N2; trước khi xuất cảnh, anh T1 có địa chỉ cư trú tại xóm E, xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Đăng T1 không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài, xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự. Đồng thời, do trong vụ án ly hôn này, Tòa án không tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Đăng T1 được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hạnh phúc và đã có hai người con chung. Tuy nhiên, hạnh phúc gia đình không xây dựng được bền vững do tính tình hai anh chị không phù hợp, bất đồng về quan điểm sống, hoàn cảnh mưu sinh vất vả dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, hai anh chị sinh sống tại hai nước khác nhau nên đã không liên lạc, quan tâm tới nhau từ năm 2017 cho đến nay. Tại các bản tự khai, chị T, anh T1 đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nên đều đồng ý giải quyết ly hôn. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là chưa dài nhưng đã phát sinh mâu thuẫn một thời gian mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, đều kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị Tình yêu C1 giải quyết ly hôn và anh T1 đồng ý ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 55 Luật Hôn nhân - Gia đình nên ghi nhận sự thuận tình ly hôn này của hai anh chị.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Tại các bản tự khai, chị T, anh T1 đều trình bày vợ chồng có hai con chung là: Nguyễn Minh Bảo N, sinh ngày 06/4/2007 và Nguyễn Ngọc Minh C, sinh ngày 30/8/2010. Hiện nay hai cháu đều đang ở với chị T. Nay ly hôn, chị T, anh T1 đều thống nhất giao hai con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con cũng như điều kiện hoàn cảnh của các bên và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Tòa án ghi nhận.

Đồng thời, về cấp dưỡng nuôi con, chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Đăng T1 không yêu cầu nên Toà án không xem xét.

Anh T1 không trực tiếp nuôi con sau ly hôn nên có quyền đi lại thăm nom con chung; không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại các bản tự khai, chị T, anh T1 đều Hkhông yêu cầu Toà án giải quyết về phần tài sản nên miễn xét.

[3]. Về án phí: Chị T và anh T1 phải chịu án phí dân sự ly hôn sơ thẩm quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 55, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Đăng T1.
  2. Về quan hệ con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Minh Bảo N, sinh ngày 06/4/2007 và Nguyễn Ngọc Minh C, sinh ngày 30/8/2010 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Đăng T1 không yêu cầu nên Toà án không xem xét.

    Anh Nguyễn Đăng T1 có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Đăng T1 không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0013031 ngày 15/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Trả lại cho chị T số tiền tạm ứng án phí còn lại là 225.000 (hai trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.

    Anh Nguyễn Đăng T1 phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn. (Anh T1 chưa nộp).

  5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Đăng T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Đại sứ quán Việt Nam tại Ukraina (theo
  • Giấy CNKH số 24/2015 ngày 28/12/2015);
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 387/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 387/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn giữa chị T và anh T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger