|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————— |
Bản án số: 387/2024/DS-ST
Ngày: 17/9/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Xuân Hương
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Đào Ngọc Bích
- Ông Phạm Hồng Hải.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức - Là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 442/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 572/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
- Địa chỉ trụ sở chính: Lầu H, số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1991 (có đơn xin vắng mặt).
- Địa chỉ liên hệ: Lầu E, số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- (Là người đại diện theo ủy quyền, Giấy ủy quyền số: 519/2024/UQ-TT.XLN ngày 25/6/2024).
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1999 (có đơn xin vắng mặt).
- Địa chỉ: E đường Đ, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Ngày 20/02/2023, Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và ông Nguyễn Văn L có ký kết với nhau Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ vào đề nghị và thu nhập của ông L, Ngân hàng đã đồng ý cấp cho ông Lộc T tín dụng số 436438-2187, hạn mức tín dụng 70.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất áp dụng là 2,482%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 168.540.152 đồng. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt thẻ tín dụng đến nay, ông L mới thanh toán cho Ngân hàng được 101.924.001 đồng. Do ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 06/10/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với ông L và chuyển toàn bộ số nợ của ông L sang nợ quá hạn. Sau đó, Ngân hàng thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở nhưng ông L vẫn không thanh toán nợ cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng đã khởi kiện đối với ông L, yêu cầu ông L phải trả cho Ngân hàng khoản nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/9/2024) là 112.926.931 đồng gồm: Nợ gốc 78.866.779 đồng, nợ lãi quá hạn là 34.060.152 đồng. Ngoài ra, ông L phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng kể từ ngày 18/9/2024 trên tổng số tiền mà ông L có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng theo mức lãi suất nợ quá hạn được quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/02/2023.
Tại Bản tự khai ngày 20/8/2024, bị đơn ông Nguyễn Văn L trình bày:
Ngày 20/02/2023, ông L và Ngân hàng TMCP S có ký kết với nhau Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng tính tới ngày 05/10/2023, ông L còn nợ Ngân hàng số tiền là 78.866.779 đồng. Nay ông đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Ông Nguyễn Văn L xin được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm hiện nay, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa ngày hôm nay, nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn L trả nợ thông qua giao dịch cấp thẻ tín dụng, đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn L xin vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hoà giải được vụ án. Tại phiên tòa ngày hôm nay, nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Xét Giấy ủy quyền số: 519/2024/UQ-TT.XLN ngày 25/6/2024 của ông Lê Ngọc T1 ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc M tham gia tố tụng giải quyết vụ án là hợp lệ, được Tòa án chấp nhận.
[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:
[2.1] Xét yêu cầu về tiền gốc: Xét thấy sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Nguyễn Văn L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 168.540.152 đồng. Tuy nhiên, ông L không thanh toán đầy đủ nợ gốc cho Ngân hàng. Căn cứ vào Bản tóm tắt sao kê do Ngân hàng TMCP S cung cấp cho thấy tại thời điểm xét xử, ông Nguyễn Văn L còn khoản nợ gốc với Ngân hàng là 78.866.779 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử cần buộc ông Nguyễn Văn L phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 78.866.779 đồng.
[2.2] Xét yêu cầu về tiền lãi: Xét thấy, trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Nguyễn Văn L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 06/10/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với ông L và chuyển toàn bộ số nợ của ông L sang nợ quá hạn. Xét mức lãi suất mà Ngân hàng áp dụng với ông L là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do đó, yêu cầu tính lãi của Ngân hàng đối với ông L là có căn cứ. Theo bảng tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp cho thấy tại thời điểm xét xử, ông Nguyễn Văn L còn khoản nợ lãi quá hạn với Ngân hàng là 34.060.152 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử cần buộc ông Nguyễn Văn L phải trả cho Ngân hàng khoản tiền lãi quá hạn là 34.060.152 đồng.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Văn L phải chịu án phí trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 463, Điều 465 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
- Chấp nhận toàn bô yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Nguyễn Văn L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền là 112.926.931 đồng (một trăm mười hai triệu chín trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm ba mươi mốt đồng) gồm: Nợ gốc 78.866.779 đồng (bảy mươi tám triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn bảy trăm bảy mươi chín đồng), nợ lãi quá hạn là 34.060.152 đồng (ba mươi bốn triệu không trăm sáu mươi nghìn một trăm năm mươi hai đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn được quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/02/2023.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 5.646.346 đồng (năm triệu sáu trăm bốn mươi sáu nghìn ba trăm bốn mươi sáu đồng).
Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.972.170 đồng (một triệu, chín trăm bảy mươi hai nghìn, một trăm bảy mươi đồng) theo biên lai thu tiền số: AA/2023/0035625 ngày 13/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S và bị đơn ông Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Xuân Hương |
Bản án số 387/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 387/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng S tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Văn L
