Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 387/2024/HS-ST

Ngày: 14/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Minh Tú

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Hương

2/ Bà Bùi Thị Phụng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Quân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phương Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 321/2024/TLST-HS ngày 21/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 391/QĐXXST-HS ngày 15/7/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 93/2024/HS-QĐ ngày 29/7/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Nhật T; sinh năm 2004; Nơi sinh: Bình Định; Hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Đ; Tiền án, tiền sự: Không có; Tạm giam, tạm giữ từ ngày 27/3/2024.- Có mặt.

Bị hại:

-Ông Trần Minh S (Tiệm cầm đồ B)

Địa chỉ: C L, khu phố C, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh – vắng mặt

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1980 – vắng mặt

Địa chỉ: thôn X, xã H, Thị Xã H, tỉnh Bình Định

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 18 giờ 30 phút ngày 23/3/2024, Nguyễn Nhật T mang 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh 64GB của T đến cầm cho anh Trần Minh S tại tiệm C1, địa chỉ số : L, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi thỏa thuận xong, anh S đồng ý cầm điện thoại cho T với giá 5.000.000 đồng, anh S chuyển khoản số tiền này vào số tài khoản 040098692993 thuộc Ngân hàng S1 mang tên Nguyễn Nhật T, nhận tiền xong T ra về.

Do đã tiêu xài hết số tiền 5.000.000 đồng nên T nảy sinh ý định quay lại tiệm C1 để chờ thời cơ lấy lại điện thoại của mình. Đến khoảng 19 giờ 07 phút cùng ngày, T quay lại tiệm cầm đồ Bảo T1 để chuộc điện thoại trên và gặp anh Trần Minh H đang trông coi tại tiệm. Tại đây, T nói với anh H cho T mượn lại điện thoại đã cầm trước đó để chuyển khoản tiền chuộc điện thoại. Anh H đồng ý và đưa lại điện thoại cho T. T bấm điện thoại một lúc nhưng thấy thời cơ không thuận lợi nên nói với anh H chưa có tiền và trả điện thoại lại cho anh H rồi rời đi. Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, T tiếp tục quay lại tiệm cầm đồ Bảo T1 và nói anh H cho mượn lại điện thoại đã cầm để chuyển khoản tiền chuộc. Do tin tưởng nên anh H đồng ý và đưa lại điện thoại cho T. Trong lúc anh H đang nói chuyện với khách hàng khác và quay lưng lại phía T thì bất ngờ T cầm điện thoại bỏ chạy ra phía trước tiệm, leo lên xe mô tô Yamaha Sirius màu đỏ, đen, biển số 77C1-004.43 đang dựng sẵn và cắm sẵn chìa khóa xe rồi điều khiển xe mô tô trên tẩu thoát theo hướng rẽ vào đường H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Anh H có đuổi theo nhưng không kịp. Ngày 24/3/2024, anh Trần Minh S đến Công an phường L trình báo toàn bộ nội dung sự việc trên. Tuy nhiên, đến khoảng 12 giờ 00 phút ngày 25/3/2024, do lo sợ bị Công an phát hiện bắt giữ nên T quay lại tiệm cầm đồ Bảo T1 trả lại cho anh S số tiền 5.000.000 đồng. Sau khi đưa tiền xong, T bị Công an thành phố Thủ Đức tiến hành mời về Công an phường L để làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Nhật T khai nhận hành vi phạm tội như trên. Qua làm việc, T khai nhận số tiền 5.000.000 đồng mà T cầm điện thoại Iphone 11 Promax tại tiệm cầm đồ Bảo Tín thì T đã dùng cho việc tiêu xài cá nhân hết. Đồng thời, số tiền 5.000.000 đồng mà T trả cho anh S là số tiền T mượn của bạn bè, không phải là số tiền mà T đã cầm đồ trước đó.

Kết luận định giá tài sản số 192-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 15/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận: 01 điện thoại hiệu Iphone 11 Promax 64GB màu xanh trị giá 8.117.000 đồng.

*Vật chứng thu giữ:

  • - 01 nón bảo hiểm màu cam, mũi đen; 01 mắt kính màu đen; 01 áo khoác dài tay màu xanh; 01 đôi dép màu đen là trang phục T sử dụng khi thực hiện hành vi Cướp giật tài sản vào ngày 23/3/2024;
  • - 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu xanh 64GB;
  • - 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 77C1-004.43; số máy 5C63429711, số khung: RLCS5C630BY429665. Qua xác minh, xe mô tô trên do chị Nguyễn Thị Đ đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, chị Đ trình bày: Đầu tháng 10/2022, chị Đ giao xe cho con trai ruột là Nguyễn Nhật T sử dụng để làm phương tiện đi lại, việc T sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội thì chị Đ không biết. Ngày 15/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chị Đ xe mô tô trên.
  • - 01 USB bên trong chứa đoạn clip ghi lại hình ảnh Nguyễn Nhật T thực hiện việc cướp giật tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Minh S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại bản Cáo trạng số 306/CT – VKS ngày 11/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Nguyễn Nhật T về tội: “Cướp giật tài sản”, theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội: “Cướp giật tài sản” đồng thời đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 171; Điểm b, s khoản 1 Điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 đến 03 năm.

Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng. Lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Do không có tiền chuộc lại điện thoại đã cầm cố trước đó nên khoảng 19 giờ 50 phút ngày 23/3/2024, Nguyễn Nhật T đã thực hiện hành vi cướp giật 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh 64GB trị giá 8.117.000 đồng của T đã cầm cố tại tiệm C1, địa chỉ số : L, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên đã phạm vào tội: “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ nên cần xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo đang là sinh viên, bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, hiện đang là sinh viên. Bản thân bị cáo đã có thời gian bị tạm giam đến nay cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung, nếu không tiếp tục tạm giam cũng không ảnh hưởng đến công tác phòng chống tội phạm tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hưởng án treo, có thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục và cải tạo.

[4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

  • - 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 77C1-004.43; số máy 5C63429711, số khung: RLCS5C630BY429665. Qua xác minh, xe mô tô trên do chị Nguyễn Thị Đ đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, chị Đ trình bày: Đầu tháng 10/2022, chị Đ giao xe cho con trai ruột là Nguyễn Nhật T sử dụng để làm phương tiện đi lại, việc T sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội thì chị Đ không biết. Ngày 15/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chị Đ xe mô tô trên;
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm màu cam, mũi đen; 01 mắt kính màu đen; 01 áo khoác dài tay màu xanh; 01 đôi dép màu đen;
  • - Lưu hồ sơ 01 USB bên trong chứa đoạn clip ghi lại hình ảnh Nguyễn Nhật T thực hiện việc cướp giật tài sản
  • - Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu xanh 64GB;

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Áp dụng Khoản 1 Điều 171; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật T phạm tội: “Cướp giật tài sản”
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật T 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 ( hai) năm, tính từ ngày tuyên án.

    Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Nhật T nếu bị cáo Nguyễn Nhật T không bị tạm giam về một tội phạm khác.

    Giao bị cáo Nguyễn Nhật T cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp Nguyễn Nhật T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu Nguyễn Nhật T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc Nguyễn Nhật T phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp Nguyễn Nhật T thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc Nguyễn Nhật T phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

  2. Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm màu cam, mũi đen; 01 mắt kính màu đen; 01 áo khoác dài tay màu xanh; 01 đôi dép màu đen;
    • - Lưu hồ sơ 01 USB bên trong chứa đoạn clip ghi lại hình ảnh Nguyễn Nhật T thực hiện việc cướp giật tài sản
    • - Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu xanh 64GB; (Theo phiếu nhập kho số NK 24/319C ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thủ Đức;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan THA.HS Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THA.DS thành phố Thủ Đức;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lưu Minh Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 387/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 387/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Nhật T về tội ''Cướp giật tài sản''
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger