Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 387/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15-5-2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Dung

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Phối

2. Bà Lê Thị Ngọc

-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Phong - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Võ Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 275/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 về hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lương Thị Bích N, sinh năm: 1998 (vắng mặt)

HKTT: Thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai.

Hiện ở: 01 T, TP ., T. B

- Bị đơn: Anh Vương Trung H, sinh năm: 1998 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ D, khu phố I, P. Đ, TP ., T. B.

Hiện đang thi hành án tại: Đ, phân trại A, Trại Giam K, huyện H, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 04/4/2024 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Lương Thị Bích N trình bày: Chị và anh Vương Trung H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào ngày 01/4/2021; tại UBND phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định theo giấy chứng nhận kết hôn số 51. Trước khi kết hôn anh chị có tìm hiểu và chung sống với nhau một thời gian. Nhưng sau kết hôn vợ chồng sống với nhau không được hạnh phúc trọn vẹn và vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H thường xuyên không tôn trọng chị thể hiện bằng lời nói và hành động, mặc khác anh H sống không có trách nhiện, thương yêu vợ con và vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến cuộc sống của mẹ con chị. Anh chị sống ly thân từ tháng 3 năm 2022 cho đến nay, không quan tâm lo lắng gì đến nhau, hiện tình cảm giữa chị và anh H cũng không còn, nay chị yêu cầu Tòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh H để chị ổn định cuộc sống.

Quá trình chung sống vợ chồng chị có 03 con chung tên Vương Bảo N1, sinh ngày 29/4/2020, Vương Gia H1, sinh ngày 12/8/2021 và Vương Tú N2, sinh ngày 08/8/2022, hiện sức khỏe các con bình thường sống cùng chị. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn anh Vương Trung H trình bày: Anh và chị Lương Thị Bích N tự nguyện tìm hiểu và kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc bình thường không có mâu thuẫn gì lớn và sinh được 3 người con. Nhưng đầu năn 2022 anh vi phạm pháp luật và đang chấp hành án tại Trại Giam K, huyện H, tỉnh Bình Định. Nên nay chị N yêu cầu ly hôn với anh, anh đồng ý ly hôn với chị N.

Quá trình chung sống vợ chồng anh có 03 con chung tên Vương Bảo N1, sinh ngày 29/4/2020, Vương Gia H1, sinh ngày 12/8/2021 và Vương Tú N2, sinh ngày 08/8/2022, hiện sức khỏe các con bình thường sống cùng chị N. Ly hôn anh đồng ý giao 03 con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS.

* Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 116 Luật Hôn nhân gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị Bích N được ly hôn với anh Vương Trung H. Giao 03 con chung tên Vương Bảo N1, sinh ngày 29/4/2020, Vương Gia H1, sinh ngày 12/8/2021 và Vương Tú N2, sinh ngày 08/8/2022 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng chị N không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung. Bị đơn có địa chỉ tại tổ D, khu phố I, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định và hiện đang thi hành án tại: Đ, phân trại A, Trại Giam K, huyện H, tỉnh Bình Định. Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn thụ lý vụ án, giải quyết theo thẩm quyền quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, HĐXX căn cứ vào Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị Bích N và anh Vương Trung H kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 51do UBND phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định ngày 01/4/2021 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do anh H không quan tâm và thường hay xúc phạm chị, mặc dù chị N nhiều lần tha thứ nhưng anh H không thay đổi nên hôn nhân không có hạnh phúc, đầu năm 2022 mâu thuẫn trở nên trầm trọng khi anh vi phạm pháp luật và hiện nay đang chấp hành án, nên vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị N yêu cầu ly hôn anh H, anh H đồng ý ly hôn chị N nhưng anh đang chấp hành án và xin xét xử vắng mặt. HĐXX xét thấy hôn nhân của anh chị có mâu thuẫn và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nay chị N yêu cầu ly hôn anh H là phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội được qui định tại Điều 56 luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[3] Về quan hệ con chung: Anh chị có 03 con chung tên Vương Bảo N1, sinh ngày 29/4/2020, Vương Gia H1, sinh ngày 12/8/2021 và Vương Tú N2, sinh ngày 08/8/2022. Hiện sức khỏe các con bình thường đang sống cùng chị N. Nay chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Việc nuôi dưỡng con chung: Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung của chị N là hoàn toàn chính đáng, từ khi vợ chồng ly thân các con do chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hơn nữa anh H cũng đồng ý giao 03 con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó HĐXX giao 03 con chung cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng là hợp lý nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và phù hợp theo quy định Điều 81, 82, 83 luật hôn nhân và gia đình.

- Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[4] Về quan hệ tài sản: Chị N, anh H không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị N phải chịu 300.000đ án phí ly hôn.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với HĐXX.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, 39, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Lương Thị Bích N được ly hôn anh Vương Trung H.

2. Về con chung: Chị N và anh H có 03 con chung tên Vương Bảo N1, sinh ngày 29/4/2020, Vương Gia H1, sinh ngày 12/8/2021 và Vương Tú N2, sinh ngày 08/8/2022 . Hiện sức khỏe các con bình thường, sống cùng chị N.

- Việc nuôi dưỡng con chung: Giao 03 con chung tên Vương Bảo N1, Vương Gia H1Vương Tú N2 cho chị Lương Thị Bích N được trực tiếp nuôi dưỡng.

- Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên có quyền xin thay đổi nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Hai bên có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung không bên nào được ngăn cản.

3. Về tài sản chung: Chị N, anh H không yêu cầu Tòa giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lương Thị Bích N phải nộp 300.000đ án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000776 ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Quy Nhơn, chị N đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Lương Thị Bích N, anh Vương Trung H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND TP. Quy Nhơn;
  • - Chi cục THADS TP. Quy Nhơn;
  • - UBND P. Đống Đa, TP. Quy Nhơn.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Ngọc Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 387/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 387/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger