|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
|
Bản án số: 387/2024/HS-PT Ngày 13 tháng 5 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Văn Tuyển; |
| Các Thẩm phán: | Ông Điều Văn Hằng; |
| Ông Bùi Anh Thắng. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hương Thùy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hoàng, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 1151/2023/TLPT-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Bùi Văn H và các bị cáo khác, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 196/2023/HS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
* Các bị cáo có kháng cáo:
- Bùi Văn H, sinh năm 1989 tại huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 25/5/2006, bị Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 07 năm tù về tội Giết người, chấp hành xong án phạt tù ngày 01/9/2009; con ông Bùi Văn Q (đã chết) và bà Đào Thị H1; có vợ và 01 con sinh năm 2017. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Văn N, sinh năm 1992 tại huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký HKTT và ở: Thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; tiền án, tiền sự: Không; con ông Nguyễn Văn K và bà Trịnh Thị B; có vợ và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2023). Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Ngọc T, tên gọi khác: Không; sinh năm 1994, tại: huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; tiền án, tiền sự: Không; con ông Nguyễn Ngọc Đ và bà Vũ Thị V; có vợ và 02 con (con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020). Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Lê Huy H2 bị kết án về tội “Giết người”; các bị cáo Đào Duy N1, Đào Đại P, Vũ Văn K1 bị kết án về tội “Gây rối trật tự công cộng”; người bị hại là anh Bùi Văn H3, không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, hành vi của các bị cáo được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 11/01/2022, anh Hoàng Văn Đ1 tổ chức mời cơm đám cưới tại nhà riêng ở thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Đến khoảng 20h cùng ngày, trong sân nhà còn một số người đang ngồi ăn tại bàn (mâm) gồm: Lê Huy H2; anh Nguyễn Văn N2; anh Nguyễn Văn D; anh Lê Văn T1 và một vài người khác.
Trong lúc những người ở mâm nói trên đang ăn uống thì Đào Duy N1 đi từ bàn uống nước khu vực cổng nhà đến chúc rượu nhưng anh N2 từ chối uống. Cho rằng anh N2 không uống rượu là không tôn trọng mình nên giữa N1 và anh N2 có lời qua tiếng lại. Sau đó, N1 đi ra cổng nhà anh Đ1, nơi có nhóm thanh niên ở xã Đ đang ngồi uống nước và nói về việc mâu thuẫn này với một số người trong đó có: Bùi Văn H; Đào Đại P; Nguyễn Văn N, Đào Duy N1, Nguyễn Ngọc T, Vũ Văn K1. Sau khi nghe N1 nói, Bùi Văn H đi đến mâm anh N2 cố ý chúc rượu nhưng anh N2 từ chối uống dẫn đến cả hai lời qua tiếng lại. Lúc này, H lấy một cái bát ở bàn bên cạnh ném về phía anh N2. Thấy đánh nhau, nhóm Nguyễn Văn N, Đào Duy N1, Đào Đại P, Nguyễn Ngọc T, Vũ Văn K1 cũng từ cổng chạy vào cầm bát, đĩa, ghế inox lao vào hỗ trợ H đánh nhau với nhóm anh Nguyễn Văn N2. Khi cả hai bên đánh, ném nhau, Bùi Văn H chạy ra ngoài rồi sang nhà bà Bùi Thị Đ2 (là hàng xóm nhà anh Hoàng Văn Đ1) lấy 01 điếu cày quay lại đánh nhau với nhóm Lê Huy H2. Khi cầm điếu chạy quay lại đến cổng nhà Đ1 thì H được người dân can ngăn và thu lại điếu. Sau khi bị thu điếu, H đi bộ về phía ngõ nhà bà T2 (là hàng xóm nhà anh Hoàng Văn Đ1) để lấy xe máy ra về. Cùng lúc này tại sân đám cưới, cả 02 nhóm thanh niên ném bát, đĩa, ghế inox về phía nhau làm anh N2 bị thương rách da chảy máu tại vùng đầu; anh D bị thương rách da chảy máu tại sống mũi; N bị thương rách da chảy máu tại lông mày trái.
Bị nhóm Lê Huy H2 dùng bát, đĩa, ghế inox ném lại thì nhóm P, N, N1, T, K1 bỏ chạy ra bên ngoài đường liên thôn trước cổng đám cưới. Lúc này, khi nhóm thanh niên xã Đ đã chạy ra khỏi sân đám cưới thì anh N2 được chủ nhà đưa vào nhà vệ sinh sơ cứu vết thương. Về phía Lê Huy H2, H2 nhặt 01 dao phay tại khu vực sân rửa bát đĩa rồi lùa đuổi đánh nhóm thanh niên vừa tấn công mình. Thấy H2 chạy ra ngoài, sợ nếu ở lại sẽ bị đánh, anh Nguyễn Văn D cũng chạy theo ngay phía sau H2. Khi ra đến đoạn đường liên thôn, cách cổng nhà anh Đ1 khoảng 3-5m về bên phải, Lê Huy H2 gặp anh Bùi Văn H3, cho rằng trước đó anh H3 tham gia đánh nhóm H2 nên H2 vung dao chém 01 phát trúng vào vùng đầu anh H3 làm anh H3 bị thương.
Sau khi chém anh H3, H2 và anh D bỏ chạy rồi rẽ phải vào khu vực ngõ vào nhà dân, cách về bên phải cổng nhà anh Hoàng Văn Đ1 khoảng 10m. Tại đây, H2 gặp và nhận ra Bùi Văn H là người vừa đánh nhóm mình nên đã dùng dao tấn công H. Thấy H2 có dao, H giằng co tay dao của H2 làm H bị ngã ngửa ra đất. Lúc này, H2 vung dao chém từ trên xuống trúng vào vùng đầu H làm H bị thương. Thấy H2 đánh H, một số người dân có mặt tại hiện trường đến can ngăn, xua đuổi. H2 được anh Nguyễn Văn D hô bỏ chạy nên cả hai vượt qua hàng rào cây ven ngõ, chạy tắt qua vườn nhà dân sang đường bê tông đi ra cổng làng P.
Sau khi sự việc xảy ra, Bùi Văn H được đưa đi cấp cứu còn Lê Huy H2 quay lại gần nhà anh Đ1 lấy xe máy rồi đón anh Nguyễn Văn N2 đưa đi cấp cứu. Trên đường đi, H2 và anh N2 gặp anh Nguyễn Hùng L, sinh năm 1996, trú tại xã Đ, huyện Y đang điều khiển xe máy chở anh Nguyễn Văn D quay lại tìm anh N2. Sau đó, anh N2 sang xe anh L ngồi rồi được anh L chở cả hai đến Bệnh viện Đ4, huyện Y cấp cứu. Trên đường về, Lê Huy H2 đã ném con dao gây án vào gốc cây ven đường trước cửa nhà bà Lê Thị X. Sáng ngày 12/01/2022, trong lúc quét rác trước cửa nhà, bà X đã phát hiện và giao nộp con dao này cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Y.
Về phía Bùi Văn H và anh Bùi Văn H3 cũng được người dân đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đ4.
* Thương tích và các kết quả giám định:
-
Thương tích của bị hại Bùi Văn H:
Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với anh Bùi Văn H, lập vào hồi 22h50' ngày 11/01/2022, tại Bệnh viện Đ4 (BL:179) thể hiện: 01 (một) vết thương rách da vùng trán, đã khâu, dài 08cm, xung quanh vết thương sưng nề; Đụng dập ở móng ngón 5 bàn tay phải.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 145/2022/TTPY ngày 09/3/2022 (BL: 185,186), Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Bùi Văn H được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (Điều 4 - Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y) là: 20% (Hai mươi phần trăm).
Tại Bản kết luận giám định pháp y cơ chế hình thành thương tích về việc xác định vật gây thương tích số 377/2022/TTPY ngày 03/6/2022 (BL: 190-192), Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:
- + Vết thương rách da vùng trán, đã khâu, dài 08cm, xung quanh vết thương sưng nề: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh hoặc vật có cạnh sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm, xung huyết mô cơ và hội chứng chấn động não. Đã được điều trị, hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt ngang mức giữa trán.
- + Đối với thương tích của anh Bùi Văn H nếu không được cấp cứu kịp thời thì có thể dẫn đến hậu quả chết người.
- + Nếu sử dụng con dao gửi giám định làm vật gây thương tích thì có thể tạo nên thương tích cho anh Bùi Văn H như đã ghi nhận tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập vào hồi 22 giờ 50 phút ngày 11/01/2022 tại Bệnh viện Đ4.
-
Thương tích của anh Bùi Văn H3:
Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với anh Bùi Văn H3 lập vào hồi 09h20' ngày 14/01/2022 tại Bệnh viện Đ4 (BL: 163) thể hiện: 01 (một) vết thương rách da, kích thước dài 10cm đã khâu chỉ tại vùng đỉnh đầu.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 144/2022/TTPY ngày 09/3/2022 (BL: 171-172), Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Bùi Văn H3 được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (Điều 4 - Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y) là: 02% (Hai phần trăm).
Tại Bản kết luận giám định pháp y cơ chế hình thành thương tích về việc xác định vật gây thương tích số 370/2022/TTPY ngày 03/6/2022 (BL: 176 - 177), Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:
- + Vết thương rách da kích thước dài 10cm đã khâu chỉ tại vùng đỉnh đầu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh hoặc vật có cạnh sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm, xung huyết mô cơ và hội chứng chấn động não. Đã được điều trị, hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng giữa đỉnh đầu.
- + Đối với thương tích của anh Bùi Văn H3 nếu không được cấp cứu kịp thời thì có thể dẫn đến hậu quả chết người.
- + Nếu sử dụng con dao gửi giám định làm vật gây thương tích thì có thể tạo nên thương tích cho anh Bùi Văn H3 như đã ghi nhận tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập vào hồi 09 giờ 20 phút ngày 14/01/2022 tại Bệnh viện Đ4.
-
Thương tích của anh Nguyễn Văn N2:
Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với anh Nguyễn Văn N2 lập vào hồi 09h06' ngày 14/01/2022 tại Bệnh viện Đ4 (BL: 150) thể hiện: 01 (một) vết thương rách da, kích thước dài 04cm đã khâu chỉ tại đỉnh đầu.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 207/2022/TTPY ngày 01/4/2022 (BL: 155 - 156), Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Nguyễn Văn N2 được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (Điều 4 - Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y) là: 01% (Một phần trăm).
Tại Bản kết luận giám định pháp y cơ chế hình thành thương tích về việc xác định vật gây thương tích số 378/2022/TTPY ngày 03/6/2022 (BL: 160-161), Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:
- + Vết thương rách da kích thước dài 04cm đã khâu chỉ tại đỉnh đầu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh hoặc vật có cạnh sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm, xung huyết mô cơ và hội chứng chấn động não. Đã được điều trị, hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng giữa đỉnh đầu.
- + Tại thời điểm giám định pháp y về cơ chế hình thành thương tích: không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.
* Kết quả giám định đối với vật chứng:
Tại Bản kết luận giám định số 3311/KL-KTHS ngày 26/9/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận: Trên con dao gửi giám định có máu người, người này có kiểu gen trùng với kiểu gen của Lê Huy H2.
* Về dân sự:
Bị cáo Lê Huy H2 đã bồi thường cho Bùi Văn H số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng), bồi thường cho anh Bùi Văn H3 số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Bùi Văn H và anh Bùi Văn H3 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Huy H2 và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 196/2023/HS-ST ngày 25/8/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt:
- + Bị cáo Bùi Văn H 30 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
- + Bị cáo Nguyễn Văn N 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
- + Bị cáo Nguyễn Ngọc T 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Lê Huy H2, Đào Duy N1, Đào Đại P, Vũ Văn K1; xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/8/2023 và ngày 05/9/2023, lần lượt các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn N cùng kháng cáo đều với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo; Ngày 06/9/2023, bị cáo Bùi Văn H kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt; xem xét hành vi liên quan đến vụ án đối với Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn N2.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Các bị cáo Bùi Văn H, Nguyễn Văn N, Nguyễn Ngọc T giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Tòa án cấp sơ thẩm quy kết và thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” đối với từng bị cáo là đúng, không oan. Các bị cáo rất ân hận về hành vi đã thực hiện và đều cho rằng mức hình phạt đối với bị cáo là nặng, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chiếu cố xem xét chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt hoặc xin được hưởng án treo như nội dung kháng cáo của từng bị cáo. Bị cáo H còn đề nghị xem xét hành vi của Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn N2. Ngoài ra, bị cáo T còn xuất trình một số tài liệu mới về thân nhân bị cáo có công với cách mạng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo có thời gian tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự... chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm giải quyết vụ án:
Lời khai nhận tội của các bị cáo Bùi Văn H, Nguyễn Văn N, Nguyễn Ngọc T phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án; lời khai của người bị hại; các kết luận giám định; phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và xử phạt các bị cáo Bùi Văn H, Nguyễn Văn N, Nguyễn Ngọc T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về kháng cáo của các bị cáo: Khi quyết định mức hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra; trong đó, bị cáo H có nhân thân rất xấu, đã từng bị Tòa án xét xử nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Bùi Văn H 30 tháng tù, Nguyễn Văn N, Nguyễn Ngọc T mỗi bị cáo 24 tháng tù là phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo H, N không có tài liệu giảm nhẹ mới; bị cáo T xuất trình một số tài liệu giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo T. Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 355, Điều 356, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo H, N; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo T được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, trình bày của bị cáo,
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Bùi Văn H, Nguyễn Văn N, Nguyễn Ngọc T đều khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã quy kết, thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đúng người, đúng tội, không oan. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo thấy phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong cùng vụ án, phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm; các kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được, HĐXX phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:
Vào chiều tối ngày 11/01/2022, xuất phát từ việc Bùi Văn H đến chúc rượu mâm Lê Huy H2 đang ăn nhưng bị từ chối tại đám cưới của anh Hoàng Văn Đ1 ở thôn P, xã Đ, huyện Y, nhóm các đối tượng Đào Duy N1, Đào Đại P, Nguyễn Văn N, Nguyễn Ngọc T và Vũ Văn K1 đã dùng bát, đĩa, ghế inox ném về phía nhóm Lê Huy H2, Nguyễn Văn N2 và Nguyễn Văn D gây mất an ninh trật tự tại nơi tập trung đông người, đồng thời gây thương tích cho Nguyễn Văn N2 theo kết quả giám định là 01%. Sau đó, Lê Huy H2 đã nhặt được một con dao phay (dao chặt) dài 40,5cm tại khu vực sân đám cưới rồi lùa đánh lại nhóm Bùi Văn H. Hậu quả, Lê Huy H2 chém trúng đầu gây thương tích 20% đối với Bùi Văn H và chém trúng đầu gây thương tích 02% đối với anh Bùi Văn H3. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Văn H, Nguyễn Văn N, Nguyễn Ngọc T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo, HĐXX phúc thẩm thấy:
[2.1]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội, bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân tại địa phương, mà còn là nguyên nhân gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; vì vậy, cần phải xử lý các bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung. Các bị cáo Bùi Văn H, Nguyễn Văn N, Nguyễn Ngọc T phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn; trong đó, Bùi Văn H là người khởi xướng nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn các đồng phạm, các bị cáo khác hành vi ngang nhau. Tòa án cấp sơ thẩm đã có sự đánh giá về vị trí, vai trò của từng bị cáo như phân tích, nhận định nêu trên là có căn cứ.
[2.2]. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo N, T có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, phải nuôi các con còn nhỏ; gia đình bị cáo H đang thờ cúng liệt sỹ Bùi Văn C là bác ruột của bị cáo, được chính quyền địa phương xác nhận, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo là phù hợp quy định pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xem xét thái độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, xem xét về việc bị cáo H có nhân thân xấu, từng bị Tòa án xét xử, nhưng không lấy đó làm bài học, lại tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ bất chấp pháp luật, nên đã quyết định xử phạt bị cáo Bùi Văn H 30 tháng tù, Nguyễn Văn N, Nguyễn Ngọc T mỗi bị cáo 24 tháng tù là tương xứng, đã phân hóa được vai trò, cá thể hóa được hình phạt đối với từng bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo H, N không xuất trình thêm được tình tiết giảm nhẹ mới nên không đủ căn cứ để HĐXX xem xét khi quyết định về hình phạt đối với các bị cáo. Cần thiết phải giữ nguyên quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo H, N mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng từng bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm, kiên quyết đấu tranh phòng chống các loại tội phạm gây rối trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang trong dư luận, gây bức xúc cho người dân. Bị cáo T xuất trình được Giấy xác nhận là cháu ngoại của ông Vũ Văn Đ3 là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng 3; tài liệu thể hiện bị cáo có hoàn cảnh gia đình éo le, bố đẻ bị cáo hiện đang bị bệnh mùn khớp háng, đi lại khó khăn, phải thay khớp háng, bị cáo có con nhỏ, vợ bị cáo bị khuyết tật chân, các thành viên trong gia đình đều cần có người chăm sóc; ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành tốt chủ trương, đường lối, chính sách của pháp luật và Nhà nước; bị cáo đã từng tình nguyện đi bộ đội, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và có tham gia lực lượng dân phòng ở địa phương; bị cáo được chính quyền địa phương xã Đ đề nghị xem xét cho bị cáo cơ hội được tự cải tạo, UBND xã Đ cam kết quản lý, giáo dục bị cáo tại địa phương; đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Như vậy, xem xét khách quan, toàn diện vụ án, HĐXX thấy bị cáo T được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được chính quyền địa phương xác nhận có nơi cư trú rõ ràng, tính chất, mức độ hành vi hạn chế, vai trò mờ nhạt, không đáng kể trong vụ án nên có cơ sở để chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, giữ nguyên mức hình phạt nhưng không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù do bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà vẫn đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục riêng bị cáo, phòng ngừa chung tội phạm. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[3] Đối với đề nghị của bị cáo Bùi Văn H về việc xem xét hành vi của Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn N2, HĐXX thấy:
Đối với hành vi dùng bát, đĩa, ghế inox ném chống trả nhóm Bùi Văn H của Nguyễn Văn N2 và Nguyễn Văn D, do xuất phát từ việc bị nhóm H tấn công trước. Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn N2 là đúng pháp luật. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H về nội dung này.
[4] Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn H, Nguyễn Văn N không được chấp nhận, nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
-
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn H, Nguyễn Văn N; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 196/2023/HS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về hình phạt đối với các bị cáo, cụ thể:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt:
- Bị cáo Bùi Văn H 30 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
- Bị cáo Nguyễn Văn N 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
-
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc T; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 196/2023/HS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về hình phạt đối với bị cáo, cụ thể:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về án phí: Các bị cáo Bùi Văn H, Nguyễn Văn N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Ngọc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Văn Tuyển |
Bản án số 387/2024/HS-PT ngày 13/05/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về hình sự phúc thẩm (tội gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 387/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào chiều tối ngày 11/01/2022, xuất phát từ việc Bùi Văn H đến chúc rượu mâm Lê Huy H1 đang ăn nhưng bị từ chối tại đám cưới của anh Hoàng Văn Đ ở thôn P, xã Đ, huyện Y, nhóm các đối tượng Đào Duy N, Đào Đại P, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Ngọc T và Vũ Văn K đã dùng bát, đĩa, ghế inox ném về phía nhóm Lê Huy H1, Nguyễn Văn N2 và Nguyễn Văn D gây mất an ninh trật tự tại nơi tập trung đông người, đồng thời gây thương tích cho Nguyễn Văn N2 theo kết quả giám định là 01%. Sau đó, Lê Huy H1 đã nhặt được một con dao phay (dao chặt) dài 40,5cm tại khu vực sân đám cưới rồi lùa đánh lại nhóm Bùi Văn H. Hậu quả, Lê Huy H1 chém trúng đầu gây thương tích 20% đối với Bùi Văn H và chém trúng đầu gây thương tích 02% đối với anh Bùi Văn H2.
